Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 06 - 2024

V/v: "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

---

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Quy;
  2. Bà Trương Thị Lệ Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.

***

Hôm nay, ngày 28 tháng 06 năm 2024, tại Hội trường xét xử A, tầng trệt - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử công khai vụ án thụ lý số 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 56/2024/QĐHPT-HNGĐST ngày 10 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1986.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1980.

Cùng địa chỉ: Tổ 1, ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

(Bà H xin vắng mặt, còn ông S vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/12/2023, bản tự khai, quá trình làm việc tại Toà án, nguyên đơn bà Trần Thị Kim H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn S tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai vào ngày 02/06/2004. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, ông S không phụ giúp bà chăm lo gia đình mà thường xuyên ghen tuông vô cớ, bỏ mặc vợ con; vì thương các con nên bà cố gắn chịu đựng nhưng ông S vẫn không thay đổi được tính nết. Bà và ông S đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung với nhau được nữa nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S.

Về con chung: Có 02 con chung là các cháu tên Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 27/07/2005 và Nguyễn Đức D, sinh ngày 27/02/2009. Ly hôn, cháu T đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết; riêng cháu D, hiện đang sinh sống với bà nên ly hôn, bà xin nuôi cháu D và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn S đã được tống đạt (Niêm yết) hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, tham gia tố tụng cũng như xét xử nên không có lời khai, văn bản trình bày ý kiến về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Do các đương sự vắng mặt tại phiên toà, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tại phiên toà:

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng, còn bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử, thu thập chứng cứ, tài liệu, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và giao, tống đạt văn bản tố tụng, Tòa án đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án:

  • Về quan hệ hôn nhân: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, cho bà được ly hôn với ông S;
  • Về con chung: Có 02 con chung là các cháu tên Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 27/07/2005 và Nguyễn Đức D, sinh ngày 27/02/2009. Ly hôn, cháu T đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết và giao cháu D cho bà H nuôi dưỡng và ông S không cấp dưỡng nuôi con chung;
  • Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không xem xét, giải quyết;
  • Về nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết;
  • Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tư cách đương sự, quan hệ pháp luật và thẩm quyền:

Bà Trần Thị Kim H khởi kiện “Xin ly hôn và yêu cầu giải quyết con chung" với ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1980, địa chỉ: Tổ 1, ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Qua xác minh tại địa phương (Bút lục 23) thể hiện, ông Nguyễn Văn S là chủ hộ và đang thường trú tại: Tổ 1, ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; vì vậy căn cứ quy định tại Điều 68, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định bà Trần Thị Kim H là nguyên đơn, ông Nguyễn Văn S là bị đơn, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Trần Thị Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận; còn bị đơn ông Nguyễn Văn S đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do tại phiên toà nên căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông S.

[3] Về nội dụng vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Bà Trần Thị Kim H và ông Nguyễn Văn S kết hôn năm 2004, có làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 26/2004, ngày 02/06/2004 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và năm 2014 để xét xử, giải quyết vụ án.

Bà H trình bày: Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, ông S không phụ giúp bà chăm lo gia đình mà thường xuyên ghen tuông vô cớ, bỏ mặc vợ con; vì thương các con nên bà cố gắn chịu đựng nhưng ông S vẫn không thay đổi được tính nết. Bà và ông S đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung với nhau được nữa nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S.

Về việc thu thập chứng cứ, tài liệu: Tòa án đã xác minh trình trạng hôn nhân của bà H và ông S tại địa phương thể hiện (Bút lục 24): Sau khi kết hôn, vợ chồng ông S, bà H sinh sống tại địa phương từ năm 2004 đến nay, cuộc sống vợ chồng ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông S ghen tuông, chửi bới bà H làm cho cuộc sống bà H trở nên ngột ngạt. Bà H và ông S đã sống ly thân hơn 01 năm nay.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt (Niêm yết) hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho ông S nhưng ông không đến làm việc, tham gia tố tụng cũng như xét xử tại toà án. Điều này chứng tỏ ông S đã không còn thiết tha, quan tâm và mặc kệ đến quan hệ hôn nhân với bà H. Đồng thời, Tòa án cũng đã phân tích, động viên để bà H đoàn tụ, hàn gắn với ông S nhưng bà H xác định quá trình chung sống vợ chồng đã không còn tình cảm, không thể sống chung với nhau được nữa nên cương quyết xin ly hôn với ông S, chứng tỏ giữa bà H và ông S đã không còn tình cảm, tình nghĩa vợ chồng và thương yêu, quan tâm, chăm sóc đến nhau nữa...vv. Từ những nhận định, phân tích và đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông S có thật, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, cho bà được ly hôn với ông S.

[3.2] Về con chung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bà H cung cấp và phần trình bày của bà H thể hiện: Quá trình chung sống, bà H và ông S có 02 con chung là các cháu tên Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 27/07/2005 và Nguyễn Đức D, sinh ngày 27/02/2009. Ly hôn, cháu T đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết và bà H xin nuôi cháu D và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Còn ông S không đến Tòa án làm việc, tham gia tố tụng cũng như phiên tòa xét xử nên không ghi nhận được văn bản trình bày ý kiến.

Toà án đã tiến hành cho cháu Nguyễn Đức D làm bản tự khai, nguyện vọng của cháu sau khi cha mẹ ly hôn, xin được ở với bà H (Bút lục 22).

Về việc thu thập chứng cứ, tài liệu: Qua xác minh tại địa phương thể hiện (Bút lục B): Ông S và bà H có 02 con chung, hiện các con chung đang sinh sống cùng bà H, do bà H trực tiếp nuôi dưỡng, không rõ ông S có phụ bà H cấp dưỡng nuôi con chung không. Bà H làm thuê, phụ dịch vụ nâu ăn ở xã N, không rõ thu nhập; còn ông S làm gì, địa phương không rõ.

Xét thấy, hiện cháu D đang sinh sống ổn định cùng bà H, xem xét ý kiến, điều kiện của bà H và nguyện vọng của cháu D, để tránh ảnh hưởng, xáo trộn đến cuộc sống, tâm sinh lý, sinh hoạt hằng ngày, học tập...vv của cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu D cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, do bà H không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết; tạm thời ông S không cấp dưỡng nuôi con chung.

[3.3] Bà H trình bày về tài sản chung: Tự thỏa thuận, còn nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết. Ông S không đến Tòa án làm việc, tham gia tố tụng cũng như phiên tòa xét xử nên không ghi nhận được văn bản trình. Vì vậy, đối với phần tài sản chung và nợ chung, không đủ cơ sở xác định đối với các vấn đề này, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết và tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.

[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà H phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 68, 69, 97, 147, 227, 228, 235, 238, 264, 266, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, 10, 11, 18, 85, 89 và Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84, 110 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Trần Thị Kim H đối với ông Nguyễn Văn S về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim H được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
  2. Về con chung: Có 02 con chung tên là các cháu tên Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 27/07/2005 và Nguyễn Đức D, sinh ngày 27/02/2009.

    Cháu T đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết. Ly hôn, giao cháu D cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0014098 ngày 10/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
  5. Bà H, ông S vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

5

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán;
  • - Uỷ ban nhân dân xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (Số 26/2004, ngày 02/06/2004);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thành Đạt

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hôn nhân gia đình: Hằng - Sơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger