|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/DS-PT Ngày 26 - 8 - 2024 “V/v: Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂNTỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng
Các thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trường và bà Điêu Thị Bích Lượt.
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 và ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 44/2024/DSPT ngày 29 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DSST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị đơn ông Nguyễn Xuân T kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXPT-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Bá N, sinh năm 1978 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986 (là vợ ông N, vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ E, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Phương V, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Tổ D, khu A (Nay là khu H), phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1969 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971 (là vợ ông T vắng mặt).
- Anh Nguyễn Quang T2, sinh năm 1994 (là con ông T vắng mặt).
- Chị Nguyễn Hiếu N1, sinh năm 2001 (là con ông T vắng mặt).
- Chị Nguyễn Tâm T3, sinh năm 2001 (là con ông T, vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền cho bà H, anh T2, chị N1, chị T3 là ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1969 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Khu B, phường N, TP ., tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T: Ông Trần Anh K, sinh năm 1973 - Luật sư tại Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H.
Địa chỉ: Số E, đường T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng Công chứng Vũ Thị Thu H1, tỉnh Phú Thọ
Địa chỉ: Khu Phố, thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Thu H1 - Chức vụ: Trưởng Văn phòng Công chứng (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1978;
Địa chỉ: số B, đường K, quận T, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh P.
Địa chỉ: Phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1972, Chức vụ: Phó chủ nhiệm Hậu Cần, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh P (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm nguyên đơn là ông Nguyễn Bá N, bà Nguyễn Thị T1 và ông Nguyễn Phương V thống nhất trình bày như sau: Tháng 07/2022, vợ chồng ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 13, tờ bản đồ số 14, địa chỉ khu B, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, diện tích 270,3 m² (đất ở 173,1m², đất vườn 97,2 m²) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 654150 được UBND thành phố V cấp ngày 13/06/2014, nên ông bà đồng ý nhận chuyển nhượng thửa đất trên từ gia đình ông T.
Ngày 29/07/2022, vợ chồng ông và vợ chồng ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị H cùng ký Giấy biên nhận tiền thể hiện ông T, bà H chuyển nhượng cho ông N, bà T1 thửa đất số 13, tờ bản đồ số 14, địa chỉ khu B, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Th và tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 2 tầng. Giá chuyển nhượng là 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng). Ông T, bà H đã nhận đủ số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng). Việc bàn giao quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, ông T, bà H cam kết hết ngày 29/01/2023 ông, bà sẽ giao trả toàn bộ tài sản cho vợ chồng ông N, bà T1.
Tại thời điểm ký kết Giấy biên nhận tiền, ông T, bà H đang thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại Ngân hàng TMCP N2 (V1) nên hai bên chưa thực hiện ký Hợp đồng chuyển nhượng công chứng.
Ngày 01/08/2022, ông N, bà T1 và ông T, bà H, anh T2, chị N1, chị T3 đã ký kết Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 494 quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C để chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất trên. Việc ký kết Hợp đồng công chứng đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, ngay sau khi các bên ký kết Hợp đồng chuyển nhượng công chứng, ông T, bà H, anh T2, chị N1, chị T3 đã bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 654150 bản gốc cho ông N, bà T1.
Sau khi nhận chuyển nhượng, ông N, bà T1 cho ông T, bà H thuê lại nhà để ở tại thửa đất trên với giá 60.000.000 đồng/tháng. Đối với tổng số tiền ông T đã thanh toán là 165.000.000 đồng (Tháng 8/2022 thanh toán 60.000.000 đồng, tháng 9/2022 thanh toán 60.000.000 đồng, tháng 10/2022 thanh toán 30.000.000 đồng, tháng 12/2022 thanh toán 15.000.000 đồng). Số tiền chuyển tháng 10, tháng 12 là do ông Q trả hộ cho ông T, bà H. Toàn bộ số tiền trên là tiền ông T thanh toán thuê nhà của ông N, bà T1.
Ngoài ra, việc ông T tố cáo ông Nguyễn Ngọc Q liên quan đến Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên là không có căn cứ, không liên quan đến ông N, bà T1 bởi ông N, bà T1 không biết việc hợp tác giữa ông Q và gia đình ông T.
Vậy, kính đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá N và bà Nguyễn Thị T1. Buộc ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Quang T2, chị Nguyễn Hiếu N1, chị Nguyễn Tâm T3 ra khỏi nhà, đất thửa đất số 13, tờ bản đồ số 14, địa chỉ khu B, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ với diện tích 270,3 m² (đất ở 173,1m², đất vườn 97,2 m²), Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên đã thỏa thuận có hiệu lực.
Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Xuân T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Quang T2, chị Nguyễn Hiếu N1 và chị Nguyễn Tâm T3 và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần A Khiêm thống nhất trình bày: Khoảng giữa năm 2022, ông T và ông Nguyễn Ngọc Q cùng nhau thống nhất góp vốn đất để xây dựng trang trại nuôi vịt tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ, ông T và ông Q mỗi người sẽ góp 3.000.000.0xxx đồng. Tuy nhiên vào thời điểm đó ông T lại không có tiền để góp vốn đầu tư, trong khi thửa đất số 13, tờ bản đồ số 14, địa chỉ khu B, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ với diện tích 270,3 m² (đất ở 173,1m², đất vườn 97,2m²) gia đình ông đang sinh sống đã thế chấp tại ngân hàng N2 (V1) để bảo lãnh cho khoản vay 1.880.000.0000 đồng của Công ty cổ phần K1. Do khoản vay đã quá hạn, Ngân hàng đã khởi kiện Công ty cổ phần K1 tại Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ để đòi nợ theo Hợp đồng tín dụng, ông T được xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bởi ông T đã dùng nhà đất của mình để bảo lãnh cho khoản vay 1.880.000.0000 đồng của Công ty cổ phần K1.
Do ông T không có tiền, đồng thời nhà đất cũng đang đứng trước nguy cơ bị Ngân hàng phát mại mất, bởi vậy ông Nguyễn Ngọc Q giới thiệu ông T phương án vay ngoài xã hội số tiền 3.000.000.0xxx đồng, trong đó 1.880.000.000 đồng sẽ dùng để trả khoản vay mà ông T đang bảo lãnh tại Ngân hàng, sau khi ngân hàng giải chấp thửa đất sẽ dùng chính thửa đất đó để thế chấp cho khoản vay ngoài. Như vậy ông T sẽ có khoảng hơn 1 tỷ để đầu tư, ông T chỉ phải lo thêm 2 tỷ nữa là đủ tiền đầu tư trang trại. Do rất mong đầu tư được trang trại để tạo công ăn việc làm cho con, đồng thời hy vọng việc đầu tư sẽ sinh lời để trả các khoản nợ, ông T đồng ý với đề xuất của ông Q đưa ra. Vì ông T đã đồng ý, bởi vậy ông Q liên hệ với ông Nguyễn Bá N để đề xuất việc vay tiền.
Đồng ý với phương án ông Q đưa ra, bởi vậy ông Q đã dẫn ông T tới gặp ông Nguyễn Bá N để chính thức vay tiền. Do ông Q đã làm việc từ trước, bởi vậy khi gặp ông T, ông N đồng ý cho vay số tiền 3.000.000.0xxx đồng, lãi xuất vay là 2%/tháng. Để đảm bảo khoản vay, ông T phải ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho ông N tại Văn phòng C, khi ông T trả hết tiền gốc và lãi vay theo đúng thỏa thuận, hai bên sẽ thực hiện thủ tục hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã ký kết tại Văn phòng Công chứng. Ngoài ra, ông T phải ký với ông N một bản Hợp đồng thuê nhà, giá thuê nhà tháng sẽ bằng số tiền lãi ông T phải trả cho ông N hàng tháng, cụ thể là giá thuê nhà là 60.000.000 đồng/tháng. Nếu ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi, hoặc hết thời hạn vay mà ông T không trả được hết nợ gốc và nợ lãi, ông N sẽ thực hiện thủ tục đăng ký sang tên nhà đất của ông T tại Văn phòng đăng ký đất đai. Ông T đồng ý với phương án này.
Khi ông T đồng ý, ông N viết giấy vay nợ và giấy viết tay về việc thuê nhà để ông T ký, chỉ được lập thành một bản. Ông Ngọc g, ông T không được giữ cũng không được chụp lại các loại giấy tờ này.
Sau khi ông T ký giấy vay tiền và giấy thuê nhà, ông N chuyển khoản tiền vay 3.000.000.0xxx đồng cho ông T như sau:
- Ông N trực tiếp chuyển 1.880.000.000 đồng cho Ngân hàng V1 để trả khoản vay của Công ty cổ phần K1. Khi đã hoàn thành nghĩa vụ bảo lãnh, ngân hàng làm thủ tục giải chấp tài sản thế chấp của ông T, ông N giữ luôn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất này.
- Ngày 29/7/2022 ông N chuyển vào tài khoản của ông T số tiền 1.000.000.000 đồng.
- Ngày 30/7/2022 ông N chuyển vào tài khoản của ông T số tiền 60.000.000 đồng.
- Số tiền còn lại ông N, bà T1 khấu trừ luôn vào lãi tháng thứ nhất đối với khoản vay.
Ngày 01/8/2022, ông N đưa công chứng tới tận nhà ông T tại phường N để ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và sở hữu nhà. Nội dung Hợp đồng, giá cả chuyển nhượng 1.150.000.000 đồng cũng do ông N thống nhất với Văn phòng C. Văn phòng Công chứng in sẵn Hợp đồng rồi mang tới nhà ông T để bên ông T ký, công chứng viên chỉ ở đâu thì ông T và người nhà ông T ký hay điểm chỉ vào đó, ông T và người nhà ông T không được tham gia, không được ý kiến bất kỳ vấn đề gì về các điều khoản, các nội dung của Hợp đồng chuyển nhượng này. Sự việc gia đình ông T ký Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho ông Nguyễn Bá N chỉ nhằm mục đích đảm bảo khoản tiền 3.000.000.000 đồng mà ông T vay của ông Nguyễn Bá N. Việc ký Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất là hình thức, để nhằm mục đích che giấu giao dịch thực, đó là đảm bảo nghĩa vụ trả nợ khoản tiền mà ông T đã vay ông Nguyễn Bá N. Đồng thời, giá chuyển nhượng 1.150.000.000 đồng như tại Hợp đồng cũng không phản ánh đúng giá trị thật của nhà đất chuyển nhượng. Sự thực ông T không có mong muốn, cũng không có ý định chuyển nhượng nhà đất này cho ông Nguyễn Bá N, vợ và các con ông T cũng không có mong muốn, cũng không có ý định chuyển nhượng nhà đất này cho ông Nguyễn Bá N. Sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng, ông T và gia đình không bàn giao nhà đất cho ông Nguyễn Bá N mà gia đình ông T vẫn sinh sống tại căn nhà này từ đó cho tới nay.
Sang đầu tháng thứ 2 của kỳ vay, ông T trả lãi cho ông N số tiền 60.000.000 đồng, việc chuyển tiền lãi được thực hiện bằng chuyển khoản. Đầu tháng thứ 3 của kỳ vay, ông Q trả lãi cho ông N thay ông T số tiền 30.000.000 đồng và kỳ thứ tư, ông Q tiếp tục lãi thay ông T số tiền 15.000.0000 đồng, việc chuyển tiền lãi được thực hiện bằng chuyển khoản.
Tại buổi làm việc giữa ông T, ông Nguyễn Bá N và ông Nguyễn Ngọc Q ngày 16/01/2023, các bên đã thống nhất nội dung: Ông Nguyễn Ngọc Q có nghĩa vụ thay ông T trả toàn bộ số tiền 3.000.000.000 đồng mà chính ông T đã vay của ông Nguyễn Bá N, cùng toàn bộ tiền lãi vay phát sinh. Thời điểm trả nợ được quy định trong giấy vay nợ giữa ông T và ông N ký kết. Khi ông Nguyễn Ngọc Q trả đủ số tiền vay cho ông Nguyễn Bá N (gồm cả tiền gốc và tiền lãi), ông Nguyễn Bá N có trách nhiệm hủy Hợp đồng chuyển nhượng công chứng số 494, quyển số 1/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/8/2022 tại Văn phòng C.
Ông T cho rằng Hợp đồng để vay tiền của ông Nguyễn Bá N là do bị ông Nguyễn Ngọc Q lừa dối. Ông Nguyễn Ngọc Q đã lừa lấy tiền của ông để tiêu dùng cá nhân, không thực hiện mua đất xây dựng trang trại như đã thống nhất, đồng thời cũng không thực hiện cam kết thay ông T trả khoản nợ cho ông Nguyễn Bá N, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của ông T, bởi vậy ông T đã làm đơn tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Ngọc Q gửi tới Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P. Nay ông N, bà T1 khởi kiện ông và gia đình về việc tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T có quan điểm như sau:
- Không chấp yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá N và bà Nguyễn Thị T1 về công nhận Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 494, quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/8/2022, bởi vì đó là một giao dịch giả tạo với mục đích nhằm để che dấu giao dịch thực là bảo đảm cho một khoản vay.
- Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tuyên: Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 494, quyển số 1/2022.TP/CC-SCC/HĐGD được gia đình ông T ký với gia đình ông N ngày 01/8/2022 là Hợp đồng vô hiệu, đồng thời tiến hành xử lý Hợp đồng vô hiệu theo quy định pháp luật.
Đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng Công chứng Vũ Thị H1 do bà Vũ Thị H1 - Chức vụ: Trưởng Văn phòng trình bày: Ngày 27/7/2022, ông Nguyễn Bá N (sinh năm 1978, địa chỉ: phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ) đến Văn phòng C có gặp Công chứng viên để yêu cầu thực hiện công chứng “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” đối với tài sản là thửa đất số 13, tờ bản đồ số 14, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BR 654150 do UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 13/6/2014, địa chỉ thửa đất: Khu K, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Công chứng viên đã yêu cầu ông N cung cấp các giấy tờ, tài liệu để làm “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”. Sau đó, ông N đã cung cấp đầy đủ hồ sơ giấy tờ và Công chứng viên đã tiến hành soạn thảo “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” trên cơ sở nội dung cơ bản theo Phiếu yêu cầu công chứng do ông N và bà T1 ký. Ngày 01/8/2022, ông N yêu cầu Công chứng viên đến nhà riêng của ông T và bà H, địa chỉ: tổ A, khu B, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để ký “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”. Khi đến tại địa điểm ký các bên giao dịch đã cung cấp toàn bộ các giấy tờ tùy thân bản chính và giấy tờ chứng minh về tài sản bản chính, sau khi đối chiếu giấy tờ tùy thân và các giấy tờ liên quan đến giao dịch đảm bảo đủ điều kiện, nên Công chứng viên đã cho các bên ký vào từng trang của Hợp đồng và điểm chỉ ngón trỏ bàn tay phải vào trang thứ 06 của “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.
Ngày 04/5/2023, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã thu lý vụ án về việc “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” do vợ chồng ông N và bà T1 khởi kiện đối với vợ chồng ông T, bà H cùng các con đẻ của ông T và bà H.
Quan điểm của Văn phòng Công chứng như sau: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” tại thời điểm được thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá N theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các bên giao dịch.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh P do ông Nguyễn Ngọc T4 trình bày:
Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh P nhận được công văn của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ về việc tham gia vụ án “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” giữa ông Nguyễn Xuân T và ông Nguyễn Bá N. Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V chưa thực hiện việc đăng ký biến động đất đai cho ông Nguyễn Bá N với lý do gia đình ông Nguyễn Xuân T (chủ cũ) đã xây dựng nhà ở lấn vào đất an ninh quốc phòng của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh P tỉnh với diện tích 39,4m. Tường rào giáp ranh đã được Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh P tỉnh xây từ năm 2014 cho đến nay vẫn đúng hiện trạng. Tuy nhiên trong quá trình xây dựng hộ gia đình có xây dựng phần mái lấn chiếm hành lang trên không, lấn sang phần đất của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh P với diện tích 39,4m. Khu đất trên Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Thọ hiện đang quản lý. Đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 880049 ngày 31/12/2015 với diện tích 8.045,9 m². Từ những nội dung trên Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh P đề nghị Toà án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết tranh chấp và yêu cầu hộ gia đình tháo dỡ phần mái công trình lấn chiếm đúng theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc Q trình bày: Khoảng tháng 6/2022 ông có quen với ông T và ông Nguyễn Hữu T5, qua trao đổi công việc ông và ông T, ông T5 bàn bạc mua mỏ cát sỏi của Công ty H3 ở Tuyên Quang. Tuy nhiên việc làm ăn đổ vỡ, ông T có tâm sự với ông là cũng bị ông T5 lừa mất 2.000.000.000 đồng. Số tiền ông T đưa cho ông T5 có nguồn gốc vay từ Ngân hàng V1 - Chi nhánh P, thế chấp nhà đất hiện tại ông và gia đình đang ở. Đã đến hạn trả nợ, phía Ngân hàng khởi kiện ông T ra Tòa án. Tình thế khó khăn ông T đã nhờ ông tìm cách giúp tháo gỡ.
Ông tìm đến ông Nguyễn Mạnh H2 nhờ tìm người cho vay tiền. Ông H2 đã hỏi gia đình ông N, bà T1. Gia đình ông N, bà T1 đồng ý cho vay 3.000.000.000 đồng và lãi suất là 2%/tháng. Ông phải trả phí môi giới cho ông H2 là 15.000.000 đồng. Sau đó ông T dùng số tiền vay để trả cho Ngân hàng V2- Chi nhánh P 1.880.000.000 đồng mục đích rút Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xóa đăng ký thế chấp. Sau khi xóa đăng ký thế chấp giữa gia đình ông T và ông N, bà T1 đã ký với với nhau 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng đúng theo quy định.
Số tiền còn lại ông N, bà T1 giữ lại 60.000.000 đồng. Ông nhận của ông T 1.060.000.000 đồng.
Do khó khăn nên ông T đã nhờ ông trả nợ thay mình đối với số tiền nợ 3.000.000.000 đồng. Nay ông đã trả cho ông T 580.000.000 đồng (Chuyển trả cho ông T) và chuyển khoản thẳng cho ông N, bà T1 45.000.000 đồng. Nay ông có quan điểm đối với số tiền ông vay của ông T ông sẽ trả. Số tiền 45.000.000 đồng ông chuyển khoản cho vợ chồng ông N, bà T1 là ông hộ trả lãi thay cho ông T, đối với việc nợ ông T và trả lãi thay ông không đề nghị giải quyết trong vụ án này. Còn việc vay nợ liên quan giữa ông T và ông N, ông không liên quan nên ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa:
Phía nguyên đơn Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Buộc ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Quang T2, chị Nguyễn Hiếu N1, chị Nguyễn Tâm T3 ra khỏi nhà, đất tại thửa đất số 13 và trả lại cho ông N, bà T1. Về phần nhà ở xây dựng chồng lấn lên đất an ninh quốc phòng của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh P, ông N, bà T1 chấp nhận tự nguyện tháo dỡ khi Bộ chỉ huy quân sự tỉnh P có yêu cầu. Trường hợp Hội đồng xét xử xác định Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 494 quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/8/2022 là vô hiệu thì đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu, tuyên giao dịch vay tiền giữa ông Nguyễn Bá N, bà Nguyễn Thị T1 và gia đình ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị H có hiệu lực pháp luật. Buộc ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Quang T2, chị Nguyễn Hiếu N1, chị Nguyễn Tâm T3 có nghĩa vụ liên đới trả nợ gốc và lãi cho ông N, bà T1 cụ thể:
- + Về số tiền gốc: Ông T, bà H có vay và nhận số tiền 3.000.000.000 đồng từ nguyên đơn, khi vay hai bên thỏa thuận miệng mức lãi suất là 2,0%/tháng, thời hạn vay là 6 tháng, kể từ ngày 29/7/2022, số tiền lãi trong 6 tháng là 360.000.000 đồng. Như vậy, có có sở xác định số tiền ông T, bà H đã nhận và vay là 3.000.000.000 đồng.
- + Về số tiền đã trả: Từ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của các đương sự tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất số tiền bị đơn đã trả là 165.000.000 đồng, cụ thể: Tháng 8 trả: 60.000.000 đồng; tháng 9 trả: 60.000.000 đồng; tháng 10 trả: 30.000.000 đồng; tháng 12 trả: 15.000.000 đồng.
- + Về số tiền nợ gốc bị đơn còn nợ: Như đã nhận định số tiền lãi mà bị đơn hàng tháng phải trả là 60.000.000 đồng/tháng, tương đương mức lãi suất là 24%/năm, mức lãi suất này đã vượt quá mức quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Số tiền lãi mà bị đơn đã trả vượt quá mức lãi suất quy định nên sẽ được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi. Vì vậy, số tiền nợ gốc mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả là 2.979.833.333 đồng là phù hợp với quy định pháp luật.
- + Mức lãi suất mà nguyên đơn xác định theo luật định là 20%/năm thì số tiền lãi trên nợ gốc trong hạn mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả là: 153.152.776 đồng là phù hợp với quy định pháp luật.
- + Đối với số tiền lãi trên nợ lãi, tiền lãi trên nợ gốc quá hạn nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả là phù hợp với quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Tiền lãi trên nợ lãi, tính đến ngày xét xử, tuyên án 25/3/2024 được xác định như sau: Tiền lãi tháng 10/2022, tính từ ngày 01/11/2022 = 19.663.889 đồng x 10%/365 ngày x 509 ngày = 2.742.169 đồng;
Tiền lãi tháng 11/2022, tính từ ngày 01/12/2022 = 49.663.889 đồng x 10%/365 ngày x 479 ngày = 6.517.534 đồng;
Tiền lãi tháng 12/2022, tính từ ngày 01/01/2023 = 34.663.889 đồng x 10%/365 ngày x 440 ngày = 4.178.660 đồng;
Tiền lãi tháng 01/2023, tính từ ngày 01/02/2023 = 49.663.889 đồng x 10%/365 ngày x 419 ngày = 5.701.142 đồng.
Tổng là 19.139.505 đồng.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn, tính đến ngày xét xử, tuyên án 25/3/2024 được xác định như sau: 2.979.833.333 đồng x 20% x 150% /365 ngày x 420 ngày = 1.028.654.794 đồng.
Như vậy, tổng số tiền gốc và tiền lãi bị đơn phải trả cho vợ chồng ông bà là 4.180.780.408 đồng (Bốn tỷ một trăm tám mươi triệu bảy trăm tám mươi nghìn bốn trăm linh tám đồng). Trong đó, tiền nợ gốc là 2.979.833.333 đồng, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn là 153.152.776 đồng; tiền lãi trên nợ lãi, tính ngày xét xử, tuyên án 25/3/20244 là 19.139.505 đồng; tiền lãi nợ quá hạn tính đến ngày xét xử là 1.028.654.794 đồng.
Tại bản án sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 BLTTDS 2015; Căn cứ Điều 117, Điều124, Điều 131, Điều 407, khoản 5 điều 466, điều 468 BLDS 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 26, khoản 3 Điều 27; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1.1 khoản 1 phần II mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết. Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá N, bà Nguyễn Thị T1 về việc yêu cầu thực hiệnHợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/8/2022 tại Văn phòng Công chứng Vũ Thị Thu H1, giữa ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Quang T2, chị Nguyễn Hiếu N1, chị Nguyễn Tâm T3 và ông Nguyễn Bá N, bà Nguyễn Thị T1 đối với thửa đất số 13 tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại khu B, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/8/2022 tại Văn phòng C, giữaông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Quang T2, chị Nguyễn Hiếu N1, chị Nguyễn Tâm T3 và ông Nguyễn Bá N, bà Nguyễn Thị T1 đối với thửa đất số 13 tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại khu B, phường N, thành phố V là vô hiệu toàn bộ.
- Hậu quả Hợp đồng vô hiệu:
- Buộc ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị H phải trả tổng số tiền 4.180.780.408 đồng (Bốn tỷ một trăm tám mươi triệu bảy trăm tám mươi nghìn bốn trăm linh tám đồng). Trong đó, tiền nợ gốc là 2.979.833.333 đồng, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn là 153.152.776 đồng; tiền lãi trên nợ lãi, tính ngày xét xử, tuyên án 25/3/20244 là 19.139.505 đồng; tiền lãi trên nợ gốc quá hạn, tính ngày xét xử, tuyên án 25/3/2024 là 1.028.654.794 đồng cho vợ chồng ông Nguyễn Bá N và bà Nguyễn Thị T1.
- Ông N và bà T1 phải có trách nhiệm trả lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR65410 do UBND thành phố cấp ngày 13/6/2014 đứng tên hộ ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H, thửa đất số 13 tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại khu B, phường N, thành phố V.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí, chi phí tố tụng:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Bá N và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận ông N, bà T1 đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000280 ngày 25/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H phải chịu 112.180.780 đồng (Một trăm mười hai triệu một trăm tám mươi nghìn bảy trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Bá N và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 9.600.000₫ (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng), xác nhận anh N, chị T1 đã nộp đủ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bản án còn tuyên quyền đề nghị thi hành án và quyền kháng cáo và nghĩa vụ chậm trả cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/3/2024, ông Nguyễn Xuân T có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DSST ngày các 25/3/2024. Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ cho ông N và ông N đã thống nhất trình bày, đề nghị các nội dung sau đây:
- Đề nghị hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DSST ngày các 25/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ về nghĩa vụ trả nợ do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như sau: Nguyên đơn khởi kiện bổ sung vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xem xét giải quyết là vi phạm tố tụng. Đề nghị hủy phần tuyên nghĩa vụ thanh toán tiền của vợ chồng ông đối vợ chồng ông N, bà T1 do giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu và xem xét lại việc xác định chủ thể tham gia giao dịch và căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự do Tòa án cấp sơ thẩm xác định không chính xác.
- Các bên đã có biên bản thống nhất chuyển giao nghĩa vụ, theo thỏa thuận ông Nguyễn Ngọc Q thực hiện trả nợ cho ông N thay ông, nhưng Hội đồng xét xử không xem xét biên bản thỏa thuận giữa các bên, vẫn buộc ông phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi cho vợ chồng ông N, bà T1 là không đúng.
Tại phiên tòa, ông N và bà T1 không kháng cáo và giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại cấp sơ thẩm và không có ý kiến trình bày gì thêm.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T đề nghị hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm đối với phần thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền tại Hợp đồng vay tài sản. Vì tại cấp sơ thẩm đã xác định chủ thể căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp và để giải quyết triệt để thì cần phải hướng dẫn để phía ông N hoặc ông T làm thủ tục phản tố, để giải quyết cả khoản tiền vay, tuy nhiên, cấp sơ thẩm không hướng dẫn là thiếu sót, nhưng cấp sơ thẩm đã giải quyết và tính án phí để buộc phía ông T, bà H phải chịu nghĩa vụ án phí đối có giá ngạch để nộp vào ngân sách nhà nước đảm bảo đúng pháp luật. Vì vậy, việc hủy một phần bản án để cho các bên khởi kiện lại sẽ làm phát sinh thêm vụ án và tranh chấp kéo dài, nên đề nghị không hủy một phần bản án đối với nội dung kháng cáo này của ông T.
Tuy nhiên, căn cứ thừa nhận số tiền thực tế ông N giao cho ông T chỉ là 2.940.000.000 đồng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định số tiền gốc là 3.000.000.000 đồng là chưa đúng, dẫn đến lãi suất cũng không chính xác. Nên đề nghị sửa số tiền gốc và lãi cho phù hợp và đề nghị sửa lại cách tuyên nghĩa vụ đối với số tiền chậm trả theo đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Kháng cáo của ông T được chấp nhận một phần nên ông T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm (có bài phát biểu của Kiểm sát viên chi tiết được lưu trong hồ sơ vụ án).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông T thực hiện trong hạn luật định, đơn hợp lệ cần chấp nhận để xem xét nội dung kháng cáo của ông T.
- [2]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc T6 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định chủ thể tham gia giao dịch và căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự không đúng là vi phạm thấy rằng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông N đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ yêu cầu khởi kiện đề xác định quan hệ tranh chấp là đúng quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm đã làm rõ thực tế ông N cho ông T6 vay tiền. Việc hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ nhằm mục đích che dấu hợp đồng vay tiền giữa ông N và ông T6. Nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 124 của Bộ luật dân sự, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do giả tạo và xác định giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giải quyết hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, chỉ trích yếu một nội dung là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng là chưa đầy đủ nhưng không ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của ông T6.
- [3]. Xét kháng cáo của ông T6 đề nghị hủy một phần về nghĩa vụ trả nợ của bản án dân sự sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tổ tụng các lý lo: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, tuy nhiên vẫn được Hội đồng xét xử giải quyết. Nguyên đơn không có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết hợp đồng vay tài sản và thanh toán lãi vay, đồng thời không có tài liệu nộp tạm ứng án phí cho yêu cầu bổ sung này, tuy nhiên vẫn được giải quyết, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn có quan điểm trình bày, đề nghị giải quyết hợp đồng vay tài sản là quyền tự định đoạt của nguyên đơn, quy định tại khoản 2 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm phải căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết, hướng dẫn để nguyên đơn viết đơn khởi kiện bổ sung hoặc bị đơn có yêu cầu phản tố và cho nộp tạm ứng án phí để xem xét trong cùng vụ án để tránh phát sinh nhiều vụ án và bị kéo dài. Nhưng cấp sơ thẩm không thực hiện đúng quy định, mà lại xét ngay đề nghị của ông N là thiếu sót. Lẽ ra phải hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm đối với việc giải quyết hợp đồng vay tài sản của nguyên đơn. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết, áp dụng pháp luật nội dung về vay tài sản để giải quyết đúng pháp luật và quyết định về nghĩa vụ chịu án phí có giá ngạch, đảm bảo số tiền án phí nộp vào ngân sách nhà nước đúng pháp luật. Do đó, nếu hủy một phần bản án dân sự về giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản để giải quyết thành vụ án khác sẽ dẫn đến kéo dài thời gian và tốn kém không cần thiết. Nên không cần thiết hủy phần bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết thêm vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản thành vụ án khác khi đường lối giải quyết đúng. Nhưng sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm cần phải nghiêm túc rút kinh nghiệm.
- [4]. Do số tiền nợ gốc các bên đều xác định Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đúng nên cần phải xác định lại như sau:
- Về số tiền gốc cho vay: Ông N khởi kiện cho cho rằng ông T6 vay số tiền 3.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận, ông N chỉ chuyển tiền cho ông T6 vay tổng số tiền là 2.940.000.000 đồng; nên chỉ có cơ sở xác định số tiền ông N đã cho ông T6 vay là 2.940.000.000đồng. Khoản vay này ông T6, bà H xác định là vay chung của vợ chồng, nên chỉ có cơ sở để buộc vợ chồng ông T6, bà H có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông N, bà T1. Các con của ông T6 bà T1 không vay số tiền này nên không có nghĩa vụ phải trả đối với khoản tiền này.
- Về lãi suất và thời hạn vay các bên thỏa thuận: Hai bên thỏa thuận lãi suất 2%/tháng, tương ứng 24%/năm; thời hạn vay 06 tháng kể từ ngày 29/7/2022. Như vậy, việc thỏa thuận giữa hai bên đã vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tối đa không quá 20%/năm. Nên chỉ lãi suất cho vay là 20%/năm có hiệu lực, phần lãi suất thỏa thuận vượt quá 4%/tháng bị vô hiệu.
- Về cách tính lãi suất trong hạn như sau: Tháng 8/2022, nguyên đơn đã trừ của bị đơn số tiền lãi 60.000.000đồng. Lãi suất tháng từ ngày 30/7/2022 đến ngày 30/8/2022 được tính như sau: 2.940.000.000đồng x 20%/12 tháng làm tròn = 49.000.000đồng. Số tiền còn lại 11.000.000đồng được chuyển vào tiền gốc. Số tiền nợ gốc tính đến ngày 30/8/2022 còn lại là 2.929.000.000đồng.
- - Lãi Tháng 9/022 được tính như sau: 2.929.000.000đồng x 20%/12 tháng = 48.817.000đồng, số tiền gốc còn lại là 11.183.000đồng chuyển vào tiền gốc. Số tiền gốc còn lại tính đến ngày 30/9/2022 là 2.917.817.000đồng.
- - Lãi Tháng 10/022 được tính như sau: 2.917.817.000đồng x 20%/12 tháng = 48.630.283 đồng, số tiền lãi đã trả 30.000.000đồng = 18.630.283 đồng (số tiền còn thiếu).
- - Tháng 11/022 được tính như sau: 2.917.817.000đồng x 20%/12 tháng = 48.630.283 đồng (số tiền còn thiếu)
- - Tháng 12/022 được tính như sau: 2.917.817.000đồng x 20%/12 tháng = 48.630.283 đồng - 15.000.000đồng = 33.630.283 đồng (số tiền còn thiếu).
- - Tháng 01/023 được tính như sau: 48.630.283 đồng (số tiền còn thiếu).
Tổng cộng sau 06 tháng, lãi suất trong hạn bị đơn chưa trả là 149.521.132 đồng.
- Lãi suất của số tiền lãi nợ trong hạn là được tính như sau:
- - Lãi tháng 10 được tính như sau: 18.630.283 đồng tiền lãi tính từ ngày 30/9/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là 505 ngày = 18.630.283đồng x 10%/365 ngày x 505 ngày = 2.577.614 đồng.
- - Lãi tháng 11 được tính như sau: 48.630.283 đồng tiền lãi tính từ ngày 30/10/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là 475 ngày= 18.630.283đồng x 10%/365 ngày x 575 ngày = 6.328.598 đồng.
- - Lãi tháng 12 được tính như sau: 33.630.283 đồng tiền lãi tính từ ngày 30/12/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là 444 ngày = 33.630.283 đồng x 10%/365 ngày x 444 ngày = 4.090.916 đồng.
- - Lãi tháng 1/2023 được tính như sau: 48.630.283 đồng tiền lãi tính từ ngày 30/10/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là 413 ngày = 48.630.283 đồng x 10%/365 ngày x 413 ngày = 5.502.549đồng.
Tổng cộng là 18.499.677đ (Mười tám triệu bốn trăm chí mươi chín nghìn sáu trăm bẩy mươi bẩy đồng).
- Lãi suất số tiền nợ quá hạn là: Tính từ ngày 30/01/2023 đến ngày xét xử 25/3/2024 (2.917.817.000đồng x 20% x 150% x/365 ngày x 415 ngày = 1.009.078.379đồng (Một tỷ không trăm linh chín triệu không trăm bẩy mươi tám nghìn ba trăm bẩy mươi chín đồng).
Tổng cộng số tiền gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi của số tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn (5.1, 5.2, 5.3 = 2.917.817.000 đồng (tiền gốc phải trả) + 1.177.099.188 đ (tiền lãi phải trả) = 4.094.916.188 đ (Bốn tỷ không trăm chín mươi tư triệu chín trăm mười sáu nghìn một trăm tám mươi tám đồng).
- [5]. Xét kháng cáo của bị đơn cho rằng các bên đã có biên bản thống nhất chuyển giao nghĩa vụ cho ông Nguyễn Ngọc Q nhưng không xem xét để công nhận biên bản các bên thỏa thuận thấy rằng: Tại biên bản làm việc ngày 16/01/2023 giữa ông T6, ông N và ông Q có thỏa thuận: “Sau khi trao đổi với vợ ông N sẽ thông báo cho ông T6 và ông Q biết về việc có đồng ý gia hạn thêm 45 ngày để ông Q thực hiện nghĩa vụ trả khoản vay 3 tỷ và tiền lãi thay ông T6 hay không”. Nhưng tài liệu hồ sơ không thể hiện vợ ông N hoặc ông N có nhất trí gia hạn không và trên thực tế quá thời hạn như các bên thống nhất rất lâu ông Q cũng không trả số tiền và lãi cho ông N. Nên Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết việc khởi kiện của ông N bà T1 đối với ông T6 bà H theo quy định của pháp luật là có căn cứ, nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của ông T6 để buộc ông Q phải có nghĩa vụ trả nợ thay số tiền vợ chồng ông nợ của vợ chồng ông N, bà T1 theo biên bản thỏa thuận được. Mà buộc ông bà phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho vợ chồng ông N bà T1 như Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, biên bản thỏa thuận ngày 16/01/2023, các bên thỏa thuận liên quan đến hợp đồng vay tài sản đã xác định trên, nếu các bên thực hiện đúng thỏa thuận thì sẽ không phát sinh vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định không liên quan đến việc giải quyết trong vụ án này. Nếu các bên có yêu cầu về việc giải quyết tranh chấp thì khởi kiện trong vụ án khác là không đúng.
- [6]. Về cách tuyên lãi suất:
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì căn cứ hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 13 của nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để tuyên là: “Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong...” mới đúng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên: “Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án...” theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 13 của nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là không đúng. Nên cần phải sửa lại cách tuyên lãi suất của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.
- [7] Về án phí: Do kháng cáo ông T6 được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- [8]. Về quan điểm việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
- [9]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự:
- Không chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc T6 đề nghị hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DSST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản và không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc T6 đề nghị buộc ông Nguyễn Ngọc Q phải có nghĩa vụ trả nợ thay cho ông số tiền ông nợ của vợ chồng ông Nguyễn Bá N, bà Nguyễn Thị T1.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc T6 về việc đề nghị tính số tiền nợ gốc và tiền nợ lãi chậm trả. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DSST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 BLTTDS 2015; Căn cứ Điều 117, Điều124, Điều 131, Điều 407, khoản 5 Điều 466, điều 468 BLDS 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 26, khoản 3 Điều 27; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1.1 khoản 1 phần II mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
- [1]. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Bá N, bà Nguyễn Thị T1 về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/8/2022 tại Văn phòng Công chứng Vũ Thị Thu H1, giữa vợ chồng ông Nguyễn Bá N, bà Nguyễn Thị T1 với vợ chồng ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị H và các con ông T, bà H là anh Nguyễn Quang T2, chị Nguyễn Hiếu N1, chị Nguyễn Tâm T3 đối với thửa đất số 13 tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại khu B, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- [2]. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/8/2022 tại Văn phòng Công chứng Vũ Thị Thu H1, giữa vợ chồng ông Nguyễn Bá N, bà Nguyễn Thị T1 với vợ chồng ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị H và các con ông T, bà H là anh Nguyễn Quang T2, chị Nguyễn Hiếu N1, chị Nguyễn Tâm T3 đối với thửa đất số 13 tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại khu B, phường N, thành phố V là vô hiệu toàn bộ.
Buộc ông N và bà T1 phải có trách nhiệm trả lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR65410 do UBND thành phố cấp ngày 13/6/2014 đứng tên hộ ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H, thửa đất số 13 tờ bản đồ số 14, địa chỉ tại khu B, phường N, thành phố V.
- [3]. Về nghĩa vụ thanh toán:
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Xuân T, bà Nguyễn Thị H phải trả số tiền nợ gốc còn lại là 2.917.817.000đ (Hai tỷ chín trăm mười bẩy triệu tám trăm mười bẩy nghìn đồng).
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H phải trả cho vợ chồng ông Nguyễn Bá N và bà Nguyễn Thị T1 các khoản tiền lãi sau đây:
- Tiền Lãi suất của số tiền nợ trong hạn phải trả là 149.521.132 đ (Một trăm bốn mươi chín triệu năm trăm hai mươi mốt nghìn một trăm ba mươi hai đồng).
- Tiền Lãi suất của số tiền lãi nợ quá hạn là 18.499.677 đ (Mười tám triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm bẩy mươi đồng).
- Tiền Lãi suất của số tiền nợ quá hạn đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.009.078.379 đồng (Một tỷ không trăm linh chín triệu không trăm bẩy mươi tám nghìn ba trăm bẩy mươi chín đồng).
Tổng cả gốc và lãi là 4.094.916.188 đ (Bốn tỷ không trăm chín mươi tư triệu chín trăm mười sáu nghìn một trăm tám mươi tám đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015”.
- [4]. Về án phí, chi phí tố tụng:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Bá N và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận ông N, bà T1 đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000280 ngày 25/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, số tiền làm tròn là 112.095.000 đồng (Một trăm mười hai triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Bá N và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 9.600.000₫ (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng), xác nhận ông N, bà T1 đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- [5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho ông T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006018 ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- [6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết kháng cáo và kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hán Hưởng |
Bản án số 64/2024/DS-PT ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 64/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá N - Nguyễn Xuân T - Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
