|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày 26-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lợi;
Bà Chu Thị Bời.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Thông báo chuyển ngày xét xử số 04/2024/TB-TA ngày 16/8/2024 đối với bị cáo:
Hứa Văn N; sinh ngày 10 tháng 9 năm 1988 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn D (sinh năm 1951) và bà Triệu Thị K (sinh năm 1951); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, đã bị kết án. Tại Bản án số 86/2017/HSST ngày 24/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 07/10/2018; bị bắt tạm giam ngày 18/3/2024 đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Trung V - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. Có mặt.
Bị hại: Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1947 (đã chết).
Người đại diện của bị hại: Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hứa Văn T, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Triệu Văn H, sinh năm 1996. Vắng mặt.
- Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1956. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hứa Văn N có giấy phép lái xe hạng A1. Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 15/3/2024 Hứa Văn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285 phía sau chở Triệu Văn H đi từ thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đi xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Khi đi đến KM20 + 965, đường ĐT232 là đoạn đường cua về bên phải, trời tối, lất phất mưa phùn, khi vừa điều khiển xe mô tô thoát khỏi đoạn cua thì Hứa Văn N nhìn thấy ở giữa đường cách khoảng 05 đến 06m theo chiều đi của Hứa Văn N có ông Hoàng Văn C đi bộ phía trước cùng chiều. Do đang đi với tốc độ khoảng 40 đến 50 km/h và khoảng cách gần nên Hứa Văn N đã điều khiển xe tránh sang bên phải của ông Hoàng Văn C nhưng bánh xe cùng phần tay lái bên trái xe mô tô đã đâm vào người ông Hoàng Văn C làm ông Hoàng Văn C ngã ra đường; xe mô tô đổ, trượt về phía trước khoảng 06m. Hứa Văn N và Triệu Văn H dựng xe lên và kiểm tra, thấy ông Hoàng Văn C bất tỉnh nên đã dùng xe mô tô chở ông Hoàng Văn C đưa đi cấp cứu. Tuy nhiên, do vết thương quá nặng nên đến ngày 17/3/2024 ông Hoàng Văn C đã tử vong.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 464/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh L kết luận: Nguyên nhân chết của ông Hoàng Văn C do chấn thương sọ não.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường xác định: Địa điểm xảy ra tai nạn thuộc thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn là đường hai chiều, đoạn đường hơi vòng cua bên phải, được rải nhựa phẳng, lòng đường rộng 4,5m, lề đường 0,2m.
Tại hiện trường xác định các dấu vết, điểm mốc như sau: Điểm mốc là cột H Km20 + 500 ĐT232 ở vị trí bên trái đường hướng từ thị trấn N, huyện V đi xã T, huyện V và lấy mép đường bên phải ĐT232 hướng thị trấn N đi xã T làm chuẩn. Vết số 1 là vị trí vết cày đứt quãng, diện 5,85m x 0,1m, chiều hướng từ trước về sau, từ trái qua phải, đo thẳng vuông góc đầu vết cày đến mép đường bên phải là 1,45m, đo thẳng vuông góc cuối vết cày đến mép đường bên phải là 1,68m, khoảng cách đầu vết cày số 1 đến vết cày số 2 là 3,43m. Vết số 2 là vị trí vết cày đứt quãng diện 3,09m x 0,01m, chiều hướng từ trước về sau, từ trái qua phải đo thẳng vuông góc đầu vết cày đến mép đường bên phải là 1,16m, đo thẳng vuông góc cuối vết cày đến mép đường bên phải là 0,87m, khoảng cách cuối vết cày số 2 đến tâm vùng các mành vỡ là 1,63m. Vết số 3 là vị trí các mảnh vỡ diện 0,57m x 0,06m, rơi vãi trên mép đường, lề đường bên phải hướng từ thị trấn N đi xã T, đo thẳng vuông góc tâm vùng các mảnh vỡ đến mép đường bên phải là 0,32m. Khoảng cách từ điểm mốc đến vị trí cuối vết cày số 1 là 7,1m.
Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện xác định: Gương chiếu hậu bên trái gãy rời khỏi vị trí ban đầu, bám dính tạp chất màu nâu trắng, diện 0,1m x 0,01m; đèn tín hiệu bên phải vỡ bung bật khỏi vị trí ban đầu, diện 0,12m x 0,07m; ốp nhựa phía trước đầu xe có vết mài xước sơn, chiều hướng từ trước về sau, diện 0,12m x 0,01m; cụm đèn chiếu sáng phía trước đầu xe rạn nứt, xước, lộ ánh kim, diện 0,16m x 0,1m; mặt ngoài núm tay phanh bên phải có vết mài xước lộ ánh kim, diện 0,01m x 0,01m; mặt ngoài núm tay hệ thống chuyển hướng bên phải có vết mài rách cao su, chiều hướng từ trước về sau, diện 0,03m x 0,02m; góc ngoài phía trước bên phải giá đỡ giỏ để đồ phía trước đầu xe có vết mài xước lộ ánh kim, diện 0,01m x 0,01m; ốp nhựa giảm sóc bên trái phía trước đầu xe có vết mài sạch bụi, diện 0,1m x 0,06m; cánh yếm bên phải có vết mài xước, diện 0,3m x 0,09m mặt ngoài chân nhẫm phanh bên phải có vết mài xước lộ ánh kim, bám dính tạp chất màu nâu, diện 0,002m x 0,03m, chiều hướng từ trước về sau; mặt ngoài cần khởi động động cơ có vết mài xước lộ ánh kim bám dính tạp chất màu nâu, diện 0,01m x 0,01m; giá để chân bên phải cong, gập từ trước về sau, từ dưới lên trên, mặt ngoài để lộ thanh sắt giữa có vết mài xước lộ ánh kim, bám dính tạp chất màu trắng, nâu, diện 0,01m x 0,01m điểm thấp nhất cách mặt đất 0,31m; mặt ngoài phía dưới ống giảm thanh có vết mài xước bám dính tạp chất màu trắng, nâu, diện 0,02m x 0,01m, chiều hướng từ trước về sau.
Tại Bản kết luận giám định kỹ thuật số 40/GĐKT-ĐK ngày 12/4/2024 của Công ty cổ phần Đ kết luận: Tình trạng an toàn kỹ thuật xe cơ giới, đối với xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285, tại thời điểm kiểm tra các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm ngày 16/3/2024 của Trung tâm y tế huyện V, xét nghiệm sinh hóa đối với Hứa Văn N, kết quả xét nghiệm định tính Morphin dương tính.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285 mang tên Hoàng Văn T1, 01 thẻ căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Hứa Văn N.
Ngày 14/8/2024, ông Hứa Văn D (là bố của bị cáo Hứa Văn N) và ông Hoàng Văn S (là đại diện gia đình bị hại) đã lập biên bản thỏa thuận tổng số tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng của ông Hoàng Văn C là 80.000.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường trước số tiền 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện của bị hại giữ nguyên mức bồi thường thiệt hại đã thỏa thuận. Người đại diện của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quá trình điều tra, người làm chứng anh Triệu Văn H trình bày sự việc như nêu trên. Người làm chứng ông Hoàng Văn T1 khai, chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285 là của ông mua năm 2000, đăng ký xe mang tên ông. Năm 2000 ông đã bán lại chiếc xe này cho anh Hứa Văn T, hiện ông không còn sở hữu chiếc xe này nữa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hứa Văn N thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Do khi đi đến đoạn đường cua, trời mưa, tối, do không có đèn đường, không chú ý quan sát nên xe mô tô do bị cáo điều khiển đã đâm vào ông Hoàng Văn C làm ông Hoàng Văn C tử vong. Trước ngày xảy ra sự việc, bị cáo có sử dụng ma túy. Bị cáo đã có đơn đề nghị được miễn nộp án phí do là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hứa Văn T trình bày: Anh là anh trai của bị cáo. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285 là của anh mua lại của ông Hoàng Văn T1 làm phương tiện đi lại, khi mua không có giấy tờ mua bán, anh cũng không thực hiện thủ tục sang tên chủ sở hữu. Đến nay, chiếc xe vẫn đăng ký mang tên ông Hoàng Văn T1. Ngày 15/3/2024, Hứa Văn N mượn xe của anh để đi mua thuốc lá và xảy ra sự việc tai nạn. Anh đề nghị được trả lại chiếc xe mô tô và đăng ký xe. Gia đình anh thuộc hộ cận nghèo, số tiền bồi thường thiệt hại 20.000.000 đồng là của gia đình anh đi vay mượn giúp bị cáo để bồi thường cho gia đình bị hại.
Tại Cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hứa Văn N về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hứa Văn N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử phạt bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Ghi nhận sự thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và người đại diện của bị hại. Về vật chứng, trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Hứa Văn N; trả lại cho anh Hứa Văn T 01 xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, tội danh, hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm cho bị cáo 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự do bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo đã có tinh thần tích cực khắc phục hậu quả khi chủ động đưa bị hại đi cấp cứu dù khi đó trời tối, đường vắng, không ai phát hiện ra sự việc. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo 03 năm tù.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp, không chấp nhận ý kiến của người bào chữa về việc áp dụng cho bị cáo thêm 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự vì mặc dù bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nhưng bị cáo là người có nhận thức pháp luật, việc chủ động đưa bị hại đi cấp cứu là trách nhiệm của người gây ra tai nạn; bị cáo đã từng bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nay lại tiếp tục phạm tội liên quan đến ma túy.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng nhưng họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, sự vắng mặt này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 15/3/2024, Hứa Văn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285 hướng thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đi xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, đến KM20 + 965, đường ĐT232 thuộc thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nên đã gây ra tai nạn, hậu quả làm cho ông Hoàng Văn C tử vong. Nguyên nhân trực tiếp của vụ tai nạn giao thông là do lỗi của bị cáo khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không tuân thủ quy định về tốc độ trên đường, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua đường vòng, đường có địa hình quanh co; điều khiển xe mô tô trong cơ thể có chất ma túy, vi phạm nguyên tắc hoạt động giao thông đường bộ quy định tại khoản 5 Điều 4; khoản 7 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông công cộng, thể hiện việc thiếu ý thức tự giác, không nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông nhằm giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác, gây thiệt hại tính mạng của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có thể nhận thức được hậu quả của hành vi vi phạm nhưng vẫn thực hiện.
[5] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hứa Văn N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động gia đình chủ động thăm hỏi, xin lỗi và thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại 80.000.000 đồng, đã thực hiện bồi thường được 20.000.000 đồng. Mặc dù số tiền đã thực hiện bồi thường không lớn so với số tiền đã thỏa thuận nhưng do gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nên việc thu xếp được số tiền 20.000.000 đồng để thực hiện bồi thường thiệt hại đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, tinh thần chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại của bị cáo và gia đình bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, đã bị kết án. Tại Bản án số 86/2017/HSST ngày 24/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2018 và đã thi hành xong các quyết định khác của bản án. Tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo đã được xóa án tích. Tuy nhiên, bị cáo đã bị kết án về tội ma túy, đến nay lại tiếp tục phạm tội liên quan đến ma túy. Do đó, đánh giá bị cáo là người có nhân thân không tốt.
[9] Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[10] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có nghề nghiệp là nông dân nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[11] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện của gia đình bị hại mức bồi thường thiệt hại do tính mạng của ông Hoàng Văn C bị xâm phạm là 80.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường được số tiền 20.000.000 đồng. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền 60.000.000 đồng.
[12] Về xử lý vật chứng: Xét thấy, cần trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Hứa Văn N do không liên quan đến hành vi phạm tội; trả lại cho anh Hứa Văn T 01 xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285, 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285 là chủ sở hữu hợp pháp theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[13] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xét thấy, bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên do bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Do bị cáo và người đại diện của bị hại thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[14] Bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[15] Xét các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử thì được chấp nhận, các ý kiến không phù hợp thì không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 293; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 5 Điều 4; khoản 7 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tội danh
Tuyên bố bị cáo Hứa Văn N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
2. Hình phạt
Xử phạt bị cáo Hứa Văn N 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 18/3/2024.
3. Trách nhiệm dân sự
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Hứa Văn N và đại diện gia đình bị hại ông Hoàng Văn C về tổng số tiền bồi thường thiệt hại do tính mạng ông Hoàng Văn C bị xâm phạm, cụ thể: Bị cáo Hứa Văn N bồi thường cho gia đình ông Hoàng Văn C (đại diện là ông Hoàng Văn S) số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng. Bị cáo đã thực hiện bồi thường được số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Bị cáo Hứa Văn N có trách nhiệm tiếp tục thực hiện bồi thường số tiền còn lại là 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải thi hành án, mà người phải thi hành án chậm thi hành án, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.
4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp
4.1. Trả lại bị cáo Hứa Văn N
- 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Hứa Văn N, cấp ngày: 02/10/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.
- 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Hứa Văn N, số [...], cấp ngày 28/5/2015.
4.2. Trả lại cho anh Hứa Văn T
- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 12F2 - 9285, nhãn hiệu Oriental, số máy: 00503683, số khung: 20041183 (xe đã qua sử dụng), xe cũ, hư hỏng do tai nạn.
- 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số A0018614, BKS: 12F2-9285, mang tên Hoàng Văn T1, cấp ngày 30/6/2000.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/7/2024 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).
4. Về án phí
Bị cáo Hứa Văn N được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo
Bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/8/2024).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 15/3/2024, Hứa Văn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12F2-9285 hướng thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đi xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, đến KM20 + 965, đường ĐT232 thuộc thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nên đã gây ra tai nạn, hậu quả làm cho ông Hoàng Văn C tử vong.
