|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2024/HNGĐ - ST.
Ngày: 26 - 7 - 2024.
V/v "Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Kiệt.
- Ông Lê Hoàng Điệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 163/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng T, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn M. sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/9/2023; đơn khởi kiện bổ sung ngày 19/02/2023; đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 30/5/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 30/5/2024 ông Trần Hoàng T trình bày:
Vào năm 2012, ông và bà Phan Thị N kết hôn với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 28/9/2012. Sau khi kết hôn, ông và bà Phan Thị N sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn vì vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, bất đồng quan điểm và đã ly thân cho đến nay. Nay ông T yêu cầu được ly hôn với bà Phan Thị N.
Trong quá trình chung sống, ông và bà Phan Thị N không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án ông yêu cầu:
- Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn M diện tích chiềungang 15 mét, chiều dài 20 mét, đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tinh S, với giá 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), chuyển nhượng có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu nhận giá trị đất là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
- Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của ông Đặng Công T1 vào năm 2015 diện tích đất ruộng 1.000m², đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng/công, chuyển nhượng có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu được nhận giá trị đất với số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của bà Phan Thị C vào năm 2013 diệnh đất ruộng 1.000m², đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tính. Trăng, giá chuyển nhượng là 40.000.000 đồng/công, chuyển nhượng không có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu được nhận giá trị đất với số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn N1 vào năm 2015 diện tích đất ruộng 1.000m², đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M,tỉnh Sóc Trăng, giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng/công, chuyển nhượng không có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu được nhận giá trị đất với số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Chia đôi 3,2 cây vàng 18K, trị giá vàng là 40.000.000 giá trị số vàng này là 128.000.000 đồng). Ông yêu cầu được nhận giá trị của 1,6 cây vàng18K, tương đương số tiền nhận là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng).
- Chia đôi 3,5 cây vàng 24K, trị giá vàng là 57.000.000 đồng/01 cây (tương đương giá trị số vàng này là 199.000.000 đồng). Ông yêu cầu được nhận giá trị của 1,75 cây vàng 24K, tương đương số tiền là 99.500.000 đồng (Chín mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng).
Tại phiên toà ông yêu cầu được rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện nêu trên, việc rút đơn của ông là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Phan Thị N trình bày: Về nội dung, thủ tục khởi kiện giống như lời trình bày của ông T. Nay bà có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà và ông Trần Hoàng T không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Trong quá trình chung sống, bà và ông Trần Hoàng T không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Phan Văn M trình bày: Trong vụ án này, ông không có yêu cầu gì.
Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định, bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Hoàng T.
- + Về con chung: Các con đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trần Hoàng T2 định trong thời gian chung sống ông Trần Hoàng T3 bà Phan Thị N2 có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Phan Thị N mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Phan Thị N
Bên cạnh đó, ông Trần Hoàng Thanh vắng m vì có đơn xin giải quyết vắng mặt. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Trần Hoàng T.
[2] Tại phiên toà ông Trần Hoàng T xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể rút lại yêu cầu: Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn M diện tích chiềungang 15 mét, chiều dài 20 mét, đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tinh S, với giá 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), chuyển nhượng có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu nhận giá trị đất là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng); Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của ông Đặng Công T1 vào năm 2015 diện tích đất ruộng 1.000m², đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng/công, chuyển nhượng có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu được nhận giá trị đất với số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng); Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của bà Phan Thị C vào năm 2013 diệnh đất ruộng 1.000m², đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tính. Trăng, giá chuyển nhượng là 40.000.000 đồng/công, chuyển nhượng không có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu được nhận giá trị đất với số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn N1 vào năm 2015 diện tích đất ruộng 1.000m², đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M,tỉnh Sóc Trăng, giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng/công, chuyển nhượng không có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu được nhận giá trị đất với số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng); Chia đôi 3,2 cây vàng 18K, trị giá vàng là 40.000.000 giá trị số vàng này là 128.000.000 đồng). Ông yêu cầu được nhận giá trị của 1,6 cây vàng18K, tương đương số tiền nhận là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng); Chia đôi 3,5 cây vàng 24K, trị giá vàng là 57.000.000 đồng/01 cây (tương đương giá trị số vàng này là 199.000.000 đồng). Ông yêu cầu được nhận giá trị của 1,75 cây vàng 24K, tương đương số tiền là 99.500.000 đồng (Chín mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng). Xét thấy, việc rút yêu cầu của ông Trần Hoàng T là tự nguyện nên căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nêu trên.
[3] Về hôn nhân: Ông Trần Hoàng T3 bà Phan Thị N có đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2012 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Hôn nhân của ông bà tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Hoàng T và bà Phan Thị N là hợp pháp.
Ông Trần Hoàng T vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án xin được ly hôn với bà Phan Thị N Xét yêu cầu của ông Trần Hoàng T Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng về những sinh hoạt trong cuộc sống. Từ khi nguyên đơn chính thức yêu cầu xin ly hôn cho đến nay giữa ông Trần Hoàng T, bà Phan Thị N không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và bà N đồng ý ly hôn với ông T.
Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông Trần Hoàng T và bà Phan Thị N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Trần Hoàng T được ly hôn với bà Phan Thị N
[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông T và bà Phan Thị N xác định không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: Trong quá trình chung sống ông Trần Hoàng T cho rằng ông và bà Phan Thị N không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Ông Trần Hoàng T phải chịu án phí theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 244. khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Ông Trần Hoàng T và bà Phan Thị N được ly hôn.
- Về con chung: Ông Trần Hoàng T xác định trong thời gian chung sống ông Trần Hoàng T và bà Phan Thị N không có con chung nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung: Ông Trần Hoàng T xác định trong thời gian chung sống ông Trần Hoàng T và bà Phan Thị N tự thoả thuận nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Ông Trần Hoàng T xác định trong thời gian chung sống ông Trần Hoàng T và bà Phan Thị N không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Trần Hoàng T về việc yêu cầu: Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn M diện tích chiềungang 15 mét, chiều dài 20 mét, đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tinh S, với giá 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), chuyển nhượng có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu nhận giá trị đất là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng); Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của ông Đặng Công T1 vào năm 2015 diện tích đất ruộng 1.000m², đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng/công, chuyển nhượng có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu được nhận giá trị đất với số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng); Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của bà Phan Thị C vào năm 2013 diệnh đất ruộng 1.000m², đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tính. Trăng, giá chuyển nhượng là 40.000.000 đồng/công, chuyển nhượng không có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu được nhận giá trị đất với số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Chia đôi phần đất nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn N1 vào năm 2015 diện tích đất ruộng 1.000m², đất tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M,tỉnh Sóc Trăng, giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng/công, chuyển nhượng không có làm giấy viết tay, chưa làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất. Ông yêu cầu được nhận giá trị đất với số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng); Chia đôi 3,2 cây vàng 18K, trị giá vàng là 40.000.000 giá trị số vàng này là 128.000.000 đồng). Ông yêu cầu được nhận giá trị của 1,6 cây vàng18K, tương đương số tiền nhận là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng); Chia đôi 3,5 cây vàng 24K, trị giá vàng là 57.000.000 đồng/01 cây (tương đương giá trị số vàng này là 199.000.000 đồng). Ông yêu cầu được nhận giá trị của 1,75 cây vàng 24K, tương đương số tiền là 99.500.000 đồng (Chín mươi chín triệu, năm trăm nghìn đồng)
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Hoàng T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010770 ngày 10/10/2023 và 8.337.500 đồng (Tám triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng) theo biên lai số 0002704 ngày 19/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông Trần Hoàng T được nhận lại 8.337.500 đồng (Tám triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng) .
Bà Phan Thị N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. - Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận: THẨM
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thanh Hoa |
Bản án số 64/2024/HNGĐ - ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn
- Số bản án: 64/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
