Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HNGĐ-ST

Ngày 25-8-2023

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình,

ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh

Ông Đoàn Văn Cương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 25/8/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2023 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2023/QĐXXST-DS ngày 18/7/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/8/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1973 (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: TDP T, thị trấn V, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Nguyễn Minh T trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị H ngày 24/01/2019, trước khi cưới có được tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống và trong công việc làm ăn hàng ngày vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không hòa thuận được để xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ cuối năm 2022. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh xin được ly hôn chị H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Minh P, sinh ngày 24/7/2019. Hiện cháu đang ở cùng chị H, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn vợ chồng thỏa thuận để chị H nuôi con; không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị H, mặc dù đã được Tòa án thông báo thụ lý, giao các thủ tục tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, nhưng chị H vẫn không phối kết hợp để làm việc.

Tại phiên toà hôm nay, anh T vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Chị H vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự là nguyên đơn, trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, anh T vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Phía bị đơn, chị H cố ý vắng mặt, mặc dù đã được thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Do vậy, đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật; đề nghị xét xử cho anh T được ly hôn chị H;

Về con chung: Giao chị H nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản: Anh T không đề nghị giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; anh T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Nguyễn Minh T khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị H, nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nội dung: Anh T xin được ly hôn chị H, đề nghị giải quyết về con chung, không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay anh T vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Chị H vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Xác định chị H từ chối khai báo, từ bỏ quyền nghĩa vụ của mình, nên HĐXX căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Minh T kết hôn với chị Nguyễn Thị H ngày 24/01/2019, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không hòa thuận được để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn anh T thiết tha xin được ly hôn. Phía chị H, mặc dù đã được Tòa án thông báo thụ lý, giao các thủ tục tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, nhưng chị H vẫn không phối kết hợp để làm việc. Qua lời khai của đương sự và qua xác minh, HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyện vọng xin được ly hôn của anh T là phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy, cần xử cho anh T được ly hôn chị H để giải phóng cho cả hai bên, xét là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về nuôi con chung: Quá trình chung sống anh T và chị H sinh được một con chung là Nguyễn Minh P, sinh ngày 24/7/2019. Hiện con đang ở cùng chị H, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn, anh T có nguyện vọng để chị H nuôi con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Phía chị H đã được Toà án thông báo thụ lý, giao các thủ tục tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, nhưng chị H vẫn không phối kết hợp để làm việc, vắng mặt tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai. Tuy nhiên thực tế chị H vẫn thường xuyên ở nhà nuôi con, hàng ngày vẫn bán hàng ăn sáng tại nhà ở thôn N, xã Y, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. HĐXX xét thấy, cháu Nguyễn Minh P vẫn thường xuyên ở với mẹ, được chăm sóc chu đáo, để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con trẻ, cần giao chị H nuôi con chung. Nếu sau này, các bên đề nghị thay đổi việc nuôi con, hoặc góp cấp dưỡng nuôi con, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Xét là phù hợp các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.3] Về tài sản: Quá trình giải quyết vụ án anh T không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa hôm nay anh T vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; Phía chị H đã được Toà án thông báo thụ lý, giao các thủ tục tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, nhưng chị H vẫn không phối kết hợp để làm việc, vắng mặt tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án thông báo phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết, nếu sau này các bên có xảy ra tranh chấp về tài sản, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

[2.4] Về án phí: Anh T phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 238, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Minh T được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
  2. Về nuôi con chung: Xử giao chị Nguyễn Thị H nuôi con chung là Nguyễn Minh P, sinh ngày 24/7/2019. Không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Anh T được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh T thực hiện quyên này.

    Vì lợi ích của con chung, Tòa án có thể thụ lý vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo yêu cầu của đương sự và quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản: Không giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Minh T phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005592 ngày 29/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Án xử sơ thẩm công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang.
  • - VKSND huyện Lạng Giang
  • - Chi cục THA huyện Lạng Giang
  • - UBND thị trấn V, Lạng Giang, Bắc Giang
  • - Các đương sự
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Thân Trọng Khôi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 64/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh T làm đơn khởi kiện xin ly hôn chị H đề nghị giải quyết về con chung không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Quá trình giải quyết các bên không tự thỏa thuận được với nhau nên vụ án đã được đưa ra xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger