| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày 25 tháng 7 năm 2024 | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thiên Hùng; ông Đặng Ngọc Long
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 15/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 02/7/2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Dương Hải H, sinh năm 1982 tại tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Số nhà B, đường T, tổ A, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Ngọc L, sinh năm 1958 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1958; vợ là Nguyễn Thu T, sinh năm 1982; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không có.
Nhân thân: Bản án số 34/2008/HSST ngày 17/7/2008 của TAND tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) xử phạt Dương Hải H 16 tháng 06 ngày tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
- Họ và tên: Hà Văn T1, sinh năm 1994 tại tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Tổ H, phường N, TP B, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: Số nhà F, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Đức N, sinh năm 1966 và bà Trịnh Thị H1, sinh năm 1970; vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1995; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không có.
Nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 02 ngày 13/12/2012, Công an phường T, thành phố B xử phạt T1 01 triệu đồng về hành vi đánh bạc. Chấp hành xong ngày 29/12/2012; Bản án số 257/HSST ngày 02/10/2013, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt T1 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc. Chấp hành xong án phí, tiền phạt ngày 14/11/2013.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1982; địa chỉ: Số B, đường T y tế, tổ A, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
- Anh Triệu Mạnh N1, sinh năm 1991; địa chỉ: Số nhà C, đường N, tổ G, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1991; địa chỉ: Số B, ngõ B, đường X, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1981; địa chỉ: Số nhà B, phố C, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
* Người chứng kiến:
- Anh Nguyễn Xuân A, sinh năm 1991; địa chỉ: Số I, đường N, tổ dân phố N, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1954; địa chỉ: Số nhà H, ngách A, ngõ D, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 21 giờ 10 phút ngày 02/11/2023, tại khu vực ngõ D, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang Hà Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. T3 trong túi quần phía trước, bên phải T1 đang mặc 01 (một) cuộn giấy ăn màu trắng, bên trong đựng 02 (hai) túi nilon một đầu đều có rãnh khoá nhựa, viền màu xanh, bên trong mỗi túi đều đựng 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng; 01 hộp kim loại bề mặt có chữ “Thăng Long”, bên trong đựng: 01 (một) túi nilon một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ bên trong đựng 01 (một) mảnh viên nén màu hồng đỏ và 04 viên nén hình tròn màu hồng đỏ; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu xanh, bên trong đựng 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng. T1 khai đó là ma tuý tổng hợp dạng đá và hồng phiến của T1 đang mang bán cho Triệu Mạnh N1 nhưng chưa gặp N1 thì bị bắt. N1 và B khai có liên lạc với T1 bằng điện thoại hỏi mua 800.000 đồng ma túy để sử dụng. Khi đang chờ T1 để nhận ma túy, N1 và B đổi ý, không mua ma túy nữa. N1 và B chưa gặp T1, chưa nhận ma túy và chưa trả tiền mua ma túy cho T1.
Thu giữ của T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax. Thu giữ của N1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, 01 xe mô tô BKS 29X4-9283 và 800.000 đồng; thu giữ của Bắc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s.
Nguồn gốc số ma tuý này T1 khai mua của Dương Hải H. Quá trình điều tra, Hà Văn T1 và Dương Hải H khai nhận về diễn biến hành vi phạm tội như sau: Trước ngày bị bắt khoảng nửa tháng, H đi lên khu vực đầu cầu sắt thuộc phường T, thành phố B với mục đích để mua ma tuý để sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, H mua của một người đàn ông không xác định được danh tính 50 gam ma tuý đá và 01 túi ma tuý hồng phiến hết 18.000.000 đồng. H cất giấu ở khu vực bếp của nhà H, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/10/2023, H đang ở nhà thì nhận được điện thoại của T1 hỏi mua 08 triệu đồng tiền ma tuý hồng phiến, H đồng ý và cho T1 số tài khoản của H mở tại Ngân hàng V, bảo T1 chuyển tiền mua ma tuý vào đó. Sau khi nhận được tiền mua ma tuý do T1 chuyển đến, H gọi điện thoại cho T1, bảo lên khu vực dân cư số 3, thuộc phường T, thành phố B nhận ma tuý. Thông báo cho T1 xong, H xuống khu vực cất giấu ma tuý, lấy 01 túi đựng khoảng 100 viên ma tuý hồng phiến, cho vào một vỏ hộp bao thuốc lá Thăng L1 bằng kim loại, rồi đi xe mô tô BKS 98B3- 170.17 lên điểm hẹn, giao ma tuý cho T1. Số tiền bán ma tuý cho T1, H chuyển vào tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Thu T, sinh năm 1982 là vợ H, lấy tiền mặt ăn tiêu hết.
Khoảng hơn 08 giờ 00 phút ngày 02/11/2023, H tiếp tục nhận được điện thoại của T1 hỏi mua 08 triệu đồng tiền ma túy đá. Tương tự như lần trước, sau khi nhận được tiền của T1, H xuống bếp và lấy 02 (hai) túi nilon màu trắng loại túi có rãnh khóa nhựa (mỗi túi khoảng 05 gam ma tuý đá) cho vào hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại, rồi đi xe mô tô BKS 98B3-170.17 mang ma tuý giao cho T1, khi đi H để hộp thuốc lá đựng ma tuý vào hốc để đồ của xe mô tô BKS 98B3-170.17. Trên đường đi, H gọi điện cho T1 hỏi đang ở đâu thì T1 bảo đang ở cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh B. H đi đến đến cổng Bệnh viện Đ thì nhìn thấy T1 đang đứng ở đường phía ngoài bên phải theo hướng từ trong cổng Bệnh viện đi ra. H điều khiển xe mô tô đến chỗ T1 đứng và bảo cho T1 biết vị trí H để ma tuý, T1 cầm hộp thuốc lá Thăng Long kim loại đựng ma tuý rồi đi vào trong viện, còn H điều khiển xe máy đi về nhà. Số tiền bán ma tuý cho T1, H chuyển vào tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Thu T, sinh năm 1982 là vợ H, lấy tiền mặt ăn tiêu hết. Số ma tuý còn lại của H đã bị lực lượng Công an khám xét và thu giữ toàn bộ.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T1, thu giữ trong ngăn tủ quầy (tủ dùng để bán thuốc): 01 (một) hộp kim loại, bề mặt có chữ “Thăng Long, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “KX01”; 01 (một) hộp kim loại, bề mặt có chữ “Thăng Long, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu trắng, đựng 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ, chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “KX02"; 01 (một) túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ bên trong đựng 02 viên nén hình tròn màu xanh và nhiều viên nén hình tròn màu hồng đỏ, nghi là ma tuý, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “KX03”; 01 chai nhựa, nắp đậy có gắn 02 (hai) đoạn ống nhựa.
Ngày 03/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Hải H, kết quả khám xét thu giữ: 01 (một) túi nilon màu trắng, có quai xách, bên trong đựng 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy có 01 túi nilon màu trắng, có quai xách, đựng: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa màu trắng, chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ, đựng nhiều viên nén màu hồng đỏ, tất cả nghi là ma tuý, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “KXH1”; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng 13 (mười ba) viên nén hình tròn màu hồng đỏ, tất cả nghi là ma tuý, được niêm phong vào phong bì ký hiệu “KXH2"; 01 túi đựng nhiều ống hút, vỏ túi nilon; 01 cân điện tử màu đen, 01 hộp giấy màu trắng bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon; 01 hộp giấy màu xanh, đựng nhiều đoạn ống nhựa; khò lửa, bật lửa; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor X8a, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Zfold5, 01 diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Promax, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Zfold3, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax; 01 xe ô tô BK 30F-767.79 cùng giấy tờ xe mang tên Nguyễn Thu T; 01 xe mô tô BKS 98B3-170.17; 01 ví da màu đen bên trong có 01 căn cước công dân, 01 thẻ Ngân hàng V1, 01 thẻ Ngân hàng V2 đều mang tên Dương Hải H.
Kết luận giám định số 2176/KL-KTHS ngày 09/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng và viên nén, đều là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 4,731 gam. Trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu “KX01” được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ, là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 4,579 gam. Trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu “KX02” được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ (bên ngoài là 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu trắng) là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 2,527 gam. Trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu “KX03” được niêm phong gửi giám định: 02 (hai) viên nén hình tròn, màu xanh và các viên nén hình tròn, màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ, đều là ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 12,796 gam.
Kết luận giám định số 2175/KL-KTHS ngày 09/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu “KXH1” được niêm phong gửi giám định: Trong 01 (một) túi nilon màu trắng có quai xách, bên trong đựng 01 gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy là 01 túi nilon màu trắng có quai xách: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu trắng là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 40,062 gam. Các viên nén hình tròn, màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ đều là ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 5,045 gam.
- Trong 01 (một) phong bì thư ký hiệu “KXH2” được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 5,864 gam. 13 (mười ba) viên nén hình tròn, màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ đều là ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,320 gam.
Vật chứng của vụ án và số ma túy hoàn lại sau giám định được chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại cơ quan điều tra, Hà Văn T1, Dương Hải H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSBG-P1 ngày 13/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố Dương Hải H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố Hà Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo T1, H đã khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa. Các bị cáo không có ý kiến gì.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt, các bị cáo có mặt không có ý kiến gì.
Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Hải H từ 16 năm 6 tháng đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bổ sung bị cáo 7.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng điểm i, khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn T1 07 năm 6 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước'
- Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “QT"; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX01; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX02”; 01 (một) phòng bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX03”; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KXH1”; 01 (một) phòng bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KXH2”. 02 (hai) hộp kim loại có in chữ “THĂNG LONG”; 01 (một) chai nhựa có gắn 02 đoạn ống hút nhựa; 01 (một) cân điện tử màu đen, 01 hộp giấy màu trắng bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon, 01 hộp giấy màu xanh bên trong đựng nhiều đoạn ông nhựa, khò lửa, bật lửa.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Vison, Biển số đăng ký: 98B3- 170.17, số máy JF66E0783366, số khung: 5816GY501435; dung tích: 110; màu sơn: Đen đỏ; đăng ký lần đầu ngày 26/02/2018; 01 đăng ký xe mô tô số 141693, chủ sở hữu: Dương H. 01 (một) điện thoại nhãn hiệu HONOR X8a, số Imeil: 869157066007772, Imei2: 869157066044783 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Sam sung Zfold5, số I: 350022680906708, Imei2: 350306780906704, đã qua sử dụng đều của Dương Hải H. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 ProMax màu tím, số I: 355281438354356, Imei2: 355281439370104, đã qua sử dụng của Hà Văn T1.
+ Trả lại cho bị cáo H: 01 (một) ví da màu đen, bên trong có: 01 Căn cước công dân mang tên Dương Hải H, 01 thẻ ngân hàng V2 mang tên Dương Hải H; 01 thẻ Ngân hàng V mang tên Dương Hải H. Trả lại cho anh Triệu Mạnh N1 số tiền 800.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0000967 ngày 03/6/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo T1 không có tranh luận, bào chữa gì, nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như hình phạt; bị cáo H đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì hoản cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên và Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng là phù hợp với quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Xét về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 10 phút ngày 02/11/2023, tại khu vực ngõ D, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang Hà Văn T1 có hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép 4,731 gam ma tuý Methamphetamine để bán cho Triệu Mạnh N1. Trước đó N1 gọi điện thoại cho T1 hỏi mua 800.000 đồng ma túy đá và ngựa. Trong khi chờ T1 mang ma túy đến, N1 và B đổi ý không mua ma túy nữa. Ngoài số ma túy mang bán cho N1, T1 còn tàng trữ ở nhà 19,902 gam ma tuý Methamphetamine để sử dụng và bán.
Nguồn gốc số ma túy trên là T1 mua của Dương Hải H. T1 đã mua ma túy của H 02 lần vào ngày 24/10/2023 và ngày 02/11/2023. Khám xét nơi ở của H thu giữ 52,291 gam ma tuý Methamphetamine do H tàng trữ để sử dụng và bán. Tổng khối lượng ma túy Dương Hải H mua bán trái phép là 76,924 gam ma tuý Methamphetamine; tổng khối lượng ma túy Hà Văn T1 mua bán trái phép là 24,633 gam ma tuý Methamphetamine.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo Dương Hải H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Hà Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.
[4] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý mà còn bởi ma tuý là chất gây nghiện làm băng hoại sức khoẻ của con người, là hiểm hoạ của đại dịch HIV và là nguồn gốc dẫn đến biết bao loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự.
[5] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo H và bị cáo T1 đều đều có nhân thân xấu. Bị cáo H đã bị xử phạt 16 tháng 06 ngày tù về tội “Tổ chức đánh bạc” năm 2008. Bị cáo T1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc năm 2012, bị xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” năm 2013.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo H hai lần bán ma tuý cho T1, nên bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của các bị cáo. Bị cáo T1 có ông bà ngoại được tặng thưởng “Huy chương kháng chiến” hạng nhì, bị cáo H đã tác động đến gia đình để tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi từ việc bán ma tuý cho bị cáo T1, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội như trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo đồng thời cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Không chỉ giúp giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích và biết tuân thủ pháp luật mà còn răn đe, phòng ngừa chung đối với loại tội này trong xã hội. Tuy nhiên, căn cứ vào nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo. Việc xử phạt các bị cáo với mức hình phạt như Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ pháp luật.
[6] Các vấn đề khác:
- Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo H trình bày hoàn cảnh kinh tế khó khăn, xin được miễn hình phạt bổ sung, nhưng bị cáo không cung cấp được tài liệu gì thể hiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn của gia đình bị cáo, do vậy Hội đồng không chấp nhận miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H.
- Về vật chứng của vụ án gồm:
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “QT”; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX01; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX02”; 01 (một) phòng bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX03"; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KXH1”; 01 (một) phòng bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KXH2”, đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu và tiêu huỷ là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 02 (hai) hộp kim loại có in chữ “THĂNG LONG”; 01 (một) chai nhựa có gắn 02 đoạn ống hút nhựa; 01 (một) cân điện tử màu đen, 01 hộp giấy màu trắng bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon, 01 hộp giấy màu xanh bên trong đựng nhiều đoạn ông nhựa, khò lửa, bật lửa ga thu giữ tại nhà của bị cáo H, đây là công cụ để đựng ma túy, chia ma túy và sử dụng ma túy, do vậy cần tịch thu để tiêu huỷ là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Vison, Biển số đăng ký: 98B3- 170.17, số máy JF66E0783366, số khung: 5816GY501435; dung tích: 110; màu sơn: Đen đỏ; đăng ký lần đầu ngày 26/02/2018; 01 đăng ký xe mô tô số 141693, chủ sở hữu: Dương H là phương tiện H dùng để đi bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) điện thoại nhãn hiệu HONOR X8a, số Imeil: 869157066007772, Imei2: 869157066044783 là điện thoại H dùng để liên lạc bán ma túy cho T1; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Sam sung Zfold5, số I: 350022680906708, Imei2: 350306780906704 là điện thoại H dùng để đăng nhập ứng dụng chuyển tiền của Ngân hàng V nhận tiền bán ma túy cho T1 nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 ProMax màu tím, số Imeil: 355281438354356, Imei2: 355281439370104 là điện thoại T1 dùng để liên lạc mua ma túy của H nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) ví màu đen, bên trong có: 01 Căn cước công dân mang tên Dương Hải H, 01 thẻ ngân hàng V2 mang tên Dương Hải H; 01 thẻ Ngân hàng V mang tên Dương Hải H không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo H là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với số tiền 800.000 đồng của anh Triệu Mạnh N1 ban đầu định sử dụng để mua ma túy nhưng sau đó anh N1 đổi ý không mua nữa nên cần trả lại cho anh N1 là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với các tài sản khác Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung của anh N1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s của anh B; 01 chiếc xe mô tô BKS 29X4-9283 của chị Nguyễn Thị C; 01 chiếc xe ô tô BKS 30F-767.79 cùng giấy tờ xe mang tên Nguyễn Thu T và 05 điện thoại gồm: 01 diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Promax, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Zfold3, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone13 Promax cho chị Nguyễn Thu T (vợ của bị cáo H). Đều là tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, Cơ quan điều tra trả lại các tài sản trên là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với Triệu Mạnh N1 và Nguyễn Văn B: N1 có liên lạc mua ma túy của T1 để sử dụng cùng với B, nhưng sau đó thấy T1 bị bắt, N1 đổi ý không mua. Do N1 chưa đưa tiền, chưa nhận được ma tuý từ T1, nên chưa đủ căn cứ để xem xét xử lý N1, B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo H, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.
- Đối với bị cáo H hai lần bán ma tuý cho bị cáo T1 được số tiền 16.000.000 đồng, đây là số tiền bị cáo có được do hành vi phạm tội của bị cáo, do vậy cần buộc bị cáo phải nộp lại. Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp thay cho bị cáo số tiền 16.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000002 ngày 17/7/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Từ những phân tích đánh giá như trên, Hội đồng xét xử thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Điều luật áp dụng:
- Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Dương Hải H.
- Căn cứ điểm i, khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Hà Văn T1
- Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Hình phạt:
- Xử phạt: bị cáo Dương Hải H 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2023. Phạt bổ sung bằng tiền 7.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 16.000.000 đồng. (Xác nhận bị cáo đã thi hành xong theo biên lai thu tiền số 0000002 ngày 17/7/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang).
- Xử phạt: bị cáo Hà Văn T1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2023. Phạt bổ sung bằng tiền 5.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
3. Vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “QT”; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX01; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX02”; 01 (một) phòng bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KX03”; 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KXH1”; 01 (một) phòng bì niêm phong dán kín, ký hiệu “KXH2”. 02 (hai) hộp kim loại có in chữ “THĂNG LONG”; 01 (một) chai nhựa có gắn 02 đoạn ống hút nhựa; 01 (một) cân điện tử màu đen, 01 hộp giấy màu trắng bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon, 01 hộp giấy màu xanh bên trong đựng nhiều đoạn ông nhựa, khò lửa, bật lửa.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Vison, Biển số đăng ký: 98B3- 170.17, số máy JF66E0783366, số khung: 5816GY501435; dung tích: 110; màu sơn: Đen đỏ; đăng ký lần đầu ngày 26/02/2018; 01 đăng ký xe mô tô số 141693, chủ sở hữu: Dương H. 01 (một) điện thoại nhãn hiệu HONOR X8a, số Imeil: 869157066007772, Imei2: 869157066044783 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Sam sung Zfold5, số I: 350022680906708, Imei2: 350306780906704, đã qua sử dụng đều của Dương Hải H. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 ProMax màu tím, số I: 355281438354356, Imei2: 355281439370104, đã qua sử dụng của Hà Văn T1.
- Trả lại cho bị cáo H: 01 (một) ví da màu đen, bên trong có: 01 Căn cước công dân mang tên Dương Hải H, 01 thẻ ngân hàng V2 mang tên Dương Hải H; 01 thẻ Ngân hàng V mang tên Dương Hải H. Trả lại cho anh Triệu Mạnh N1 số tiền 800.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0000967 ngày 03/6/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
(Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 15/QĐ-VKS-P1 ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang).
4. Án phí:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
6. Hướng dẫn thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngọ Thị Thanh Hảo |
13
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo H, T phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
