|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 73/2024/HS-ST Ngày 31/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Ông Nguyễn Đăng Dũng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Thư ký TAND thị xã Thuận Thành
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Huy Lệ – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu phòng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2024/TLST-HS ngày 02/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 18/7/2024 đối với bị cáo:
Trần Văn P, sinh năm 1993
Tên gọi khác: Trần Văn N
Nơi cư trú: Thôn L, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Trần Văn T, sinh năm 1968 và con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1971; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án số 56/2014/HSST ngày 25/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt bị cáo 12 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự, án phí 200.000 đồng. Ngày 21/9/2015 nộp xong án phí; Ngày 28/02/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).
Tiền sự: Chưa có.
Nhân thân: Tại Bản án số 08/2012/HSST ngày 13/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, án phí 200.000 đồng, truy thu số tiền 3.250.000 đồng sung quỹ Nhà nước (bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi; ngày 30/5/2012 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án)
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T, sinh năm 1968. Có mặt
Địa chỉ: Thôn L, xã S, thị xã T, Bắc Ninh
Người tham gia tố tụng khác:
Cán bộ phụ trách tin học thuộc TAND thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam công an tỉnh B
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 40 phút ngày 16 tháng 3 năm 2024, tại khu vực chợ thôn L, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, lực lượng Công an thị xã T bắt quả tang Trần Văn P, sinh năm 1993 trú tại thôn L, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải P đang mặc 01 gói bọc ngoài bằng khẩu trang màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng viền kẻ màu cam bên trong có chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình tròn màu hồng. P khai đó là ma túy mua về mục đích để sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Ngoài ra lực lượng Công an còn thu giữ của P 02 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu xanh bên trong không có gì; số tiền 500.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 03 tờ tiền mỗi tờ mệnh giá 100.000 đồng); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 99F1 - 196.93; 01 điện thoại di động Nokia màu vàng gắn sim số 0986.704.263, mặt trong ốp điện thoại có 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (loại tiền cũ không còn lưu hành). Lực lượng Công an thị xã T đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã ra Quyết định số 524 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định chất ma túy đối với số vật chứng thu giữ.
Tại bản Kết luận giám định số 755/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- + Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu cam gửi giám định có khối lượng là 1,3018 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
- + 02 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu cam gửi giám định có khối lượng là 0,2035 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma tuý được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của chính phủ ban hành các danh mục chất ma tuý và tiền chất
Với nội dung trên, Cáo trạng số 73/CT-VKS-TT ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 16/3/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô Honda Dream, biển kiểm soát 99F1 - 196.93 đến khu vực Trường đại học D để mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến một ngã ba, bị cáo thấy 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi, dáng người gầy giống người nghiện ma túy đang đứng ở lề đường nên bị cáo hỏi: “anh có đồ không để cho em cái 2-1”, tức là hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá và 100.000 đồng ma túy ngựa thì người đó nói có. Bị cáo đưa cho người đàn ông này số tiền 300.000 đồng. Người đàn ông này cầm tiền và đưa cho bị cáo 01 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu cam, bên trong có chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình tròn màu hồng và 02 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu xanh (bên trong không có gì). Bị cáo biết đó là túi ma túy liền cầm và bọc vào chiếc khẩu trang màu trắng cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi về. Khi đi đến khu vực chợ T, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh thì bị lực lượng Công an thị xã T phát hiện bắt quả tang. Đối với chiếc xe máy Honda Dream, biển kiểm soát 99F1 - 196.93 là của bố bị cáo mua từ năm 2014 đăng ký tên bị cáo để làm phương tiện đi lại đề nghị HĐXX trả cho bố bị cáo chiếc xe trên.
Ông T trình bày: Năm 2014 ông mua chiếc xe máy Honda Dream, biển kiểm soát 99F1 - 196.93. Sau khi mua ông đăng ký tên cháu P để cháu lấy phương tiện đi làm, năm 2023 khi cháu đi chấp hành án về cháu mượn xe để đi xin việc làm nên ông đã cho cháu mượn xe đi lại ông không biết cháu sử dụng xe đi mua ma tuý. Ông đề nghị HĐXX cho xin lại chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 73/CT-VKS-TT ngày 01/7/2024. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị:
Xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/3/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp không ổn định không có tài sản riêng nên miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư hoàn trả lại mẫu vật sau giám định và 01 chiếc khẩu trang màu trắng; 02 túi ninlon màu trắng có viền kẻ màu xanh.
Hoàn trả bị cáo P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng gắn sim số 0986.704.263, mặt trong ốp điện thoại có 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (loại tiền cũ không còn lưu hành) và số tiền 500.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Hoàn trả ông Trần Văn T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 99F1 - 196.93
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, thừa nhận có tội, không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếunại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 40 phút ngày 16/3/2024, tại khu vực chợ thôn L, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, lực lượng Công an thị xã T bắt quả tang Trần Văn P, sinh năm 1993 trú tại thôn L, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải P đang mặc 1,5053 gam chất ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi bị cáo tàng trữ 1,5053 gam ma túy Methamphetamine đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy đối với hành vi này của bị cáo cần phải xử lý với mức hình phạt nghiêm khắc thì mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung tội phạm trên địa bàn.
Về nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản và tội mua bán trái phép chất ma tuý. HĐXX xét nhân thân của bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội khi chưa được xoá án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Căn cứ nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đối với lần phạm tội này của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành người tốt.
Bên cạnh việc bị cáo phải chịu hình phạt chính là hình phạt tù, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 chiếc khẩu trang màu trắng; 02 túi ninlon màu trắng có viền kẻ màu xanh có giá trị thấp nên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng gắn sim số 0986.704.263, mặt trong ốp điện thoại có 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (loại tiền cũ không còn lưu hành) và số tiền 500.000 đồng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo là phù hợp nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 99F1 - 196.93 Quá trình điều tra và tại phiên toà P khai là xe của ông Trần Văn T, sinh năm 1968 trú tại thôn L, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (là bố của P). Quá trình điều tra và tại phiên toà ông T khai nhận chiếc xe trên được ông mua mới năm 2014 với giá 27.000.000 đồng. Do P không có công ăn việc làm nên toàn bộ tiền mua xe là của ông. Sau đó, để thuận tiện cho việc đi lại nên ông đã cho P đi đăng ký xe và đứng tên chủ sở hữu. Cuối tháng 4/2014, P bị Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An bắt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì ông là người quản lý chiếc xe. Đến cuối tháng 02/2023, P ra tù về địa phương thì ông tiếp tục cho P mượn xe để đi lại và tìm kiếm việc làm. Ông T không biết việc P sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy. Nay ông T đề nghị HĐXX tạo điều kiện trả lại cho ông chiếc xe để lấy phương tiện đi lại. HĐXX, xét thấy chiếc xe trên là sở hữu của ông Trần Văn T và ông T không biết việc P sử dụng chiếc xe đi mua ma tuý nên trả lại cho ông T chiếc xe trên là phù hợp.
Liên quan trong vụ án:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho P tại khu vực Trường đại học D. Do P không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không có căn cứ để xác minh làm rõ khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo Trần Văn P 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/3/2024.
Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B. Bên ngoài phong bì có ghi: “ Trần Văn P, sinh năm 1993, HKTT: L, S, T, Bắc Ninh có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 01 chiếc khẩu trang màu trắng; 02 túi ninlon màu trắng, viền kẻ màu xanh.
Hoàn trả bị cáo P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng gắn sim số 0986.704.263, mặt trong ốp điện thoại có 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (loại tiền cũ không còn lưu hành) và số tiền 500.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Hoàn trả ông Trần Văn T 01 chiếc xe máy hiệu Honda biển kiểm soát 99F1 - 196.93, số khung 0802AY360653, số máy HA08E1660749.
(Các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 104 ngày 19/7/2024)
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận;
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Phong |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Kim Dung – Nguyễn Đăng Dũng |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Phong |
Bản án số 73/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 73/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T phạm tôi tàng trữ trái phép chất ma tuý
