Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/DS-ST

Ngày: 24-05-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tấn Lộc

Bà Hồ Lệ Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 360/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2023, về việc Tranh chấp hợp đồng mua bán.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phan Văn D, sinh năm 1983, có mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Lê Quốc B, sinh năm 1998, vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị M, vắng mặt

Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 17/11/2023 và tại phiên tòa, ông Phan Văn D trình bày:

Ông B có mua cua thịt của ông để bán lại tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình mua bán với nhau, ông B còn nợ ông 27.300.000 đồng. Ông nhiều lần yêu cầu ông B thanh toán thì ông B cố tình trốn tránh và về sống với bà nội của ông B là bà M. Ông có tố giác ông B đến Công an xã B thì bà M có đứng ra hứa thanh toán nợ cho ông thay ông B và ký giấy nhận nợ, hứa thanh toán tiền cho ông vào ngày 23/10/2023. Ngày 24/10/2023, tại C xan xã ông B cam kết thanh toán nợ cho ông và viết giấy nhận nợ, cam kết ngày 31/10/2023 trả 15.000.000 đồng và đến ngày 14/11/2023 sẽ thanh toán dứt điểm. Nhưng đến nay cả ông B và bà M đều không thanh toán nợ cho ông như đã cam kết.

Tại phiên toà, ông D có thay đổi là chỉ yêu cầu ông B thanh toán cho ông số tiền mua cua thịt còn nợ là 27.300.000 đồng và tiền lãi kể từ ngày 24/10/2023 cho đến nay theo mức lãi quy định của pháp luật. Ông D không yêu cầu bà M cùng với ông B thanh toán nợ cho ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Ông Phan Văn D khởi kiện yêu cầu ông Lê Quốc B thanh toán tiền mua cua thịt còn nợ nên đây là tranh chấp hợp đồng mua bán. Ông B có địa chỉ tại ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Ông B, bà M vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

[3] Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, thể hiện giữa ông D và ông B có giao dịch mua bán cua thịt với nhau. Cụ thể, ông B mua cua của ông D để bán lại. Việc này được ông B thừa nhận tại biên nhận nợ ngày 24/10/2023. Do đó, xác định các bên có xác lập hợp đồng mua bán cua thịt là có thật và hợp pháp.

[4] Ông D cho rằng ông B còn nợ tiền mua cua thịt của ông với số tiền 27.300.000 đồng và yêu cầu ông B thanh toán cho ông số tiền này. Xét thấy, tại giấy nhận nợ ngày 13/10/2023 và biên nhận nợ ngày 24/10/2023, ông B và bà M thừa nhận ông B còn nợ ông D số tiền 27.300.000 đồng và cam kết sẽ trả tiền cho ông D nhưng đến nay vẫn không thực hiện. Việc ông B không thanh toán tiền cho ông D là vi phạm nghĩa vụ trả tiền, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông D. Do đó, cần buộc ông B thanh toán cho ông D số tiền mua cua thịt còn nợ là 27.300.000 đồng.

[5] Đối với yêu cầu của ông D về việc yêu cầu ông B thanh toán lãi kể từ ngày 24/5/2024 cho đến nay với mức lãi suất theo quy định của pháp luật. Xét thấy, theo quy định tại khoản 3 Điều 440 Bộ luật Dân sự thì trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả. Do đó, chấp nhận yêu cầu của ông D về việc tính lãi chậm trả. Áp dụng mức lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng), kể từ ngày 24/10/2023 đến ngày hôm nay 24/5/2024 là 07 tháng với số tiền là 1.586.000 đồng.

Tổng cộng, ông B phải thanh toán cho ông D 28.886.000 đồng.

[6] Về lãi suất chậm thi hành án: Ông B phải chịu theo quy định pháp luật.

[7] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông B phải chịu án phí.

[8] Tại phiên tòa, ông D có mặt nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày tuyên án. Ông B, bà M vắng mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 335, 357, 430, 440, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn D về việc yêu cầu ông ông Lê Quốc B thanh toán tiền mua cua thịt còn nợ và tiền lãi theo quy định pháp luật.

    Buộc ông Lê Quốc B thanh toán cho ông Phan Văn D số tiền 28.886.000 đồng (Hai mươi tám triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn đồng).

    Kể từ ngày ông D có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp ông B chậm thanh toán khoản tiền nói trên thì ông B còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông B phải chịu 1.444.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn đồng, làm tròn số). Ông D được nhận lại 683.000 đồng (Sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng) tiền nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015804 ngày 17/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình.
  3. Ông D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông B, bà M vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc được niêm yết công khai.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Bảo Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 64/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn D - Lê Quốc B: Mua bán
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger