|
TAND HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày 25-04-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Thị Khánh Ly
Bà Nguyễn Thị Việt Hà
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu là điểm cầu trung tâm xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST- HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Thị C; Sinh ngày 27/02/1995 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;
Nơi cư trú: Bản É, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu;
Nơi ở hiện tại: Bản M, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn B, sinh năm 1962 và bà Hà Thị Đ, sinh năm 1972; chồng là Lò Văn H, sinh năm 1998 và có 01 con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/12/2023, tạm giam từ ngày 05/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt tại điểm cầu thành phần).
2. Họ và tên: Hà Văn T; Sinh ngày 11/01/1996 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;
Nơi cư trú: Bản M, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn Ư, sinh năm 1974 và bà Lường Thị B1, sinh năm 1972; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/12/2023, tạm giam từ ngày 05/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt tại điểm cầu thành phần).
- Người làm chứng:
Anh Hà Văn L (Vắng mặt)
Anh Đềm Văn A (Vắng mặt)
* Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, gồm:
Bị cáo: Lê Thị C. (Có mặt).
Bị cáo: Hà Văn T (Có mặt).
* Điểm cầu thành phần: Trung tâm T1 C1:
Người bào chữa: Ông Lê Mạnh H1, là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L bào chữa cho các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị C và Hà Văn T sinh sống với nhau như vợ, chồng tại bản Mùi 1, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu. Khoảng 15 giờ ngày 26/12/2023, Lê Thị C tự ý lấy xe mô tô của em trai họ Hà Văn B2, sinh năm 2000, trú tại bản Mùi 1, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu rồi giao cho Hà Văn T điều khiển xe chở Lê Thị C lên bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroine sử dụng và bán. Tại bản Noong Thăng, Lê Thị C và H2 VănThịnh gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, qua nói chuyện Hà Văn T hỏi mua Heroine thì người đàn ông đó đồng ý. Lúc này, Lê Thị C đưa cho Hà Văn T số tiền 200.000 đồng, Hà Văn T cầm tiền rồi đưa lại cho người đàn ông để mua Heroine. Người đàn ông nhận tiền rồi đưa cho Lê Thị C 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu xanh). Mua được H3, Lê Thị C và Hà Văn T cấu lấy một ít cùng nhau sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, Hà Văn T đưa cho Lê Thị C cầm rồi cả hai điều khiển xe mô tô về nhà tại bản Mùi 1, xã K, huyện T. Khi về đến nhà, Lê Thị C và Hà Văn T cùng nhau chia số Heroine mua được thành 03 gói nhỏ đều gói bằng mảnh nilon màu xanh (Hà Văn T là người chia H3, Lê Thị C là người gói) mục đích để sử dụng và bán. Khoảng 06 giờ sáng ngày 27/12/2023, Lê Thị C và Hà Văn T lấy 01 gói Heroine cấu lấy một ít cùng nhau sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại chưa sử dụng hết, Lê Thị C cất trong hộp đèn pin để trong buồng ngủ.
Khoảng 07 giờ cùng ngày, khi Lê Thị C và Hà Văn T đang ngủ ở nhà thì có Hà Văn L, sinh năm 1990, trú tại bản Mùi 1, xã K, huyện T đến cửa nhà gọi Hà Văn T, mục đích để mua Heroine. Lúc này, Hà Văn T bảo Lê Thị C ra mở cửa cho Hà Văn L và Đềm Văn A, sinh năm 1995, trú tại bản O, xã K, huyện T đi cùng vào. Hà Văn L hỏi mua Heroine của Lê Thị C rồi đưa cho Lê Thị C tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và nói với C chỉ mua 100.000 đồng. Lê Thị C cầm tiền đi vào trong giường ngủ nơi Hà Văn T đang nằm lấy 01 gói Heroine ra bán cho Hà Văn L và trả lại cho Hà Văn L số tiền thừa 100.000 đồng. Thấy Hà Văn L mua được H3, Đềm Văn A cũng đưa cho Lê Thị C số tiền 100.000 đồng hỏi mua Heroine. Lê Thị C đồng ý và cầm số tiền Đềm Văn A đưa rồi đi vào buồng ngủ nơi Hà Văn T đang nằm lấy gói Heroine còn lại ra bán cho Đềm Văn A. Cả hai lần Lê Thị C lần lượt bán Heroine cho Hà Văn L, Đềm Văn A thì Hà Văn T biết và đồng ý việc C bán Heroine.
Mua được H3, Hà Văn L mang đi sử dụng hết, còn Đềm Văn A mang Heroine ra khu vực nghĩa trang bản Mùi 1, xã K, huyện T sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ của Đềm Văn A 01 bật lửa ga màu xanh và 01 mảnh giấy bạc.
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Lê Thị C, Cơ quan điều tra thu giữ của Lê Thị C số tiền 300.000 đồng và 01 mảnh giấy bạc bên trong có Heroine để trong hộp đèn pin trong buồng ngủ của Lê Thị C. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà Văn T.
Tại bản Kết luận giám định tự pháp số 143 ngày 27/12/2023 của Người giám định theo vụ việc Công an huyện T và Kết luận giám định số 91 ngày 30/12/2023 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Lê Thị C, Hà Văn T có khối lượng 0,02 gam Heroine thu giữ của Lê Thị C, Hà Văn T. Cơ quan điều tra đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu vật nên không phải giải quyết; Đối với 02 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với số tiền 200.000 đồng do bị cáo Lê Thị C phạm tội mà có cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, trả lại cho bị cáo 100.000 đồng không phải là tiền do bị cáo phạm tội mà có theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vật chứng của vụ án gồm: 0,02 gam Heroine thu giữ của Lê Thị C, Hà Văn T (Cơ quan điều tra đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu vật); 02 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu và số tiền 300.000 đồng. Các vật chứng còn lại hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 24/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T. Xử phạt các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T mỗi bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 02 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo Lê Thị C phạm tội mà có. Trả lại cho bị cáo Lê Thị C số tiền 100.000 đồng không phải là tiền do bị cáo phạm tội mà có.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn cho các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính, hình phạt bổ sung và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo. Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, do nghiện ma tuý nên các bị cáo đã cùng nhau mua ma tuý về sử dụng và bán kiếm lời. Các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; đồng thời là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; nguyên nhân, điều kiện phạm tội xuất phát từ hiểu biết pháp luật còn hạn chế; bản thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và nhất trí với luận cứ bào chữa, không bổ sung lời bào chữa.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 15 giờ ngày 26/12/2023, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lê Thị C bỏ ra số tiền 200.000 đồng đưa cho Hà Văn T trực tiếp mua trái phép 01 gói Heroine của một người đàn ông không rõ lai lịch mục đích để sử dụng và bán. Mua được H3, Lê Thị C và Hà Văn T cấu lấy một ít cùng nhau sử dụng. Số Heroine còn lại, Lê Thị C và Hà Văn T mang về nhà tại bản Mùi 1, xã K, huyện T cùng nhau chia thành nhiều gói nhỏ, mục đích để bán kiếm lời. Đến khoảng 07 giờ ngày 27/12/2023, Lê Thị C đã hai lần bán trái phép, mỗi lần 01 gói Heroine với giá mỗi gói là 100.000 đồng lần lượt cho Hà Văn L, Đềm Văn A lấy tổng số tiền 200.000 đồng. Cả hai lần Lê Thị C bán Heroine cho Hà Văn L, Đềm Văn A thì Hà Văn T biết và đồng ý việc C bán Heroine. Giữ người và khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thị C, Cơ quan điều tra thu giữ 01 mảnh giấy bạc chứa 0,02 gam Heroine và số tiền 300.000 đồng, trong đó có 200.000 đồng do Lê Thị C bán Heroine mà có.
Các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T đều là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều nghiện ma tuý, với mục đích để có ma tuý sử dụng và kiếm lời từ việc bán trái phép chất ma tuý, các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T đã cố ý cùng thực hiện hành vi mua ma tuý về để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo Lê Thị C đã trực tiếp 02 lần bán trái phép, mỗi lần 01 gói Heroine với giá mỗi gói là 100.000 đồng lần lượt cho Hà Văn L, Đềm Văn A; Bị cáo Hà Văn T không trực tiếp bán Heroine nhưng đã có sự giúp sức và thống nhất ý chí với Lê Thị C từ đầu về mục đích mua Heroine về sử dụng và bán. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T đã thống nhất ý chí ngay từ đầu, cùng nhau đi mua Heroine sử dụng và bán. Lê Thị C bỏ ra số tiền 200.000 đồng, Hà Văn T giúp sức điểu khiển xe mô tô chở bị cáo C đi tìm mua ma tuý, là người trực tiếp giao dịch mua Heroine và cùng bị cáo C chia nhỏ Heroine thành nhiều gói, mục đích để bán kiếm lời. Việc bị cáo Lê Thị Cương trực t, lần lượt 02 lần bán Heroine cho Hà Văn T, Đềm Văn A, Hà Văn T biết rõ và thống nhất mục đích bán ma tuý với Lê Thị C. Do đó, Hà Văn T, Lê Thị C có vai trò đồng phạm như nhau về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Hà Văn T chưa có vợ con, bị cáo Lê Thị C là phụ nữ, có con nhỏ nhưng bị cáo đã không làm tròn trách nhiệm của người vợ, người mẹ trong gia đình mà có mối quan hệ không lành mạnh với Hà Văn T. Các bị cáo có lối sống buông thả, nghiện chất ma tuý dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn, bản thân các bị cáo nghề nghiệp tự do, thu nhập không ổn định; Các bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,02 gam Heroine thu giữ của Lê Thị C, Hà Văn T, Cơ quan điều tra đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu vật nên không phải giải quyết; Đối với 02 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với số tiền 200.000 đồng do bị cáo Lê Thị C phạm tội mà có cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, trả lại cho bị cáo 100.000 đồng không phải là tiền do bị cáo phạm tội mà có theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo xin miễn án phí. Do đó, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn cho các bị cáo Hà Văn T, Lê Thị C mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò đồng phạm đối với các bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Chấp nhận ý kiến của người bào chữa về tội danh, điều khoản áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T. Các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội; các bị cáo có lối sống buông thả, không lành mạnh; hành vi của các bị cáo bán ma tuý nhiều lần cho nhiều người nghiện đã trực tiếp gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, cần có mức án tương xứng cao hơn mức thấp nhất của khung hình phạt mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[10] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc số Heroine thu giữ, Lê Thị C, Hà Văn T khai mua từ một người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Văn L, Đềm Văn A, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T.
- - Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Thị C, Hà Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Lê Thị C 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù.
- - Xử phạt bị cáo Hà Văn T 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù.
- Thời hạn thi hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày 27/12/2023.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng 02 mảnh giấy bạc đã than hoá, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Lê Thị C. Trả lại cho bị cáo Lê Thị C số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho các bị cáo Hà Văn T, Lê Thị C mỗi bị cáo 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA Quàng Thị Phương |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị C - Hà Văn T - Mua bán trái phép chất ma tuý
