|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2023/HNGĐ-ST
Ngày 23-8-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Phước .
Ông Dư Văn Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền – Kiểm Sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Khưu Hoàng P, sinh năm: 1989; (Có mặt)
Địa chỉ: Số B, đường L, Khóm A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Bà Thạch Bé Ú, sinh năm: 1994; (vắng mặt)
Địa chỉ: Số E, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện lập ngày 25 tháng 5 năm 2023, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Khưu Hoàng P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Ông Khưu Hoàng P và bà Thạch Bé Ú chung sống trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56/2018; Đăng ký ngày 12/10/2018. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc nhưng đến thời gian gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể khắc phục được. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 02/2022 cho đến nay. Nay ông Khưu Hoàng P nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với bà Thạch Bé Ú.
Về con chung:
Trong thời gian chung sống ông P và bà Ú có 03 người con chung tên Khưu Thị Ánh T, (nữ); sinh ngày: 19/11/2009; Khưu Thị Ánh L, (nữ); sinh ngày: 19/10/2011 và Khưu Hoàng Tấn L1, (nam); sinh ngày: 27/7/2017; Hiện 03 người con đang sống cùng ông P tại số B, đường L, Khóm A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi ly hôn ông Khưu Hoàng P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 người con chung tên Khưu Thị Ánh T, Khưu Thị Ánh L và K Hoàng Tấn L1 cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông P không yêu cầu bà Thạch Bé Ú cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung:
Ông Phúc trình b không có nên không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn bà Thạch Bé Ú:
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Các giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bà Thạch B Út không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
- Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 26/6/2023 (Bút lục 21), nguyện vọng của cháu Khưu Thị Ánh L như sau:
Cháu Khưu Thị Ánh L là con ruột của ông Khưu Hoàng P và bà Thạch Bé Ú. Theo cháu L, sau khi cháu học xong lớp 3 thì đã nghỉ học hiện nay cháu ở nhà phụ cha giữ em. Hiện cháu còn 01 người chị tên Khưu Thị Ánh T và 01 người em tên Khưu Hoàng Tấn L1. Theo cháu L, cha mẹ của cháu đã sống riêng được 01 thời gian, nhưng cháu không nhớ rõ thời gian nào. Từ khi cha mẹ cháu sống riêng, cháu L sống cùng với cha là ông Khưu Hoàng P tại số B, đường L, Khóm A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nay cha mẹ cháu ly hôn, cháu L có nguyện vọng được sống cùng với cha là ông Khưu Hoàng P.
- Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 26/6/2023 (Bút lục 22), nguyện vọng của cháu Khưu Thị Ánh T như sau:
Cháu Khưu Thị Ánh T là con ruột của ông Khưu Hoàng P và bà Thạch Bé Ú. Theo cháu T, sau khi cháu xong lớp 4 thì đã nghỉ học hiện nay cháu ở nhà phụ cha giữ em. Hiện cháu còn 02 người em nữa tên Khưu Thị Ánh L và Khưu Hoàng Tấn L1. Theo cháu T, cha mẹ của cháu đã sống riêng được 01 thời gian, nhưng cháu không nhớ rõ thời gian nào. Từ khi cha mẹ cháu sống riêng, cháu cùng 02 người em sống cùng với cha là ông Khưu Hoàng P tại số B, đường L, Khóm A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nay cha mẹ cháu ly hôn, cháu T có nguyện vọng được sống cùng với cha là ông Khưu Hoàng P
* Tại phiên Tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn ông Khưu Hoàng P vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và bị đơn bà Thạch Bé Ú không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Khưu Hoàng P được ly hôn với bà Thạch Bé Ú; Về con chung: giao 03 người con chung tên Khưu Thị Ánh T, (nữ); sinh ngày: 19/11/2009; Khưu Thị Ánh L, (nữ); sinh ngày: 19/10/2011 và Khưu Hoàng Tấn L1, (nam); sinh ngày: 27/7/2017 cho ông Khưu Hoàng P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Bà Thạch Bé Ú không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: ông Khưu Hoàng P tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- [1]. Nguyên đơn ông Khưu Hoàng P khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn bà Thạch Bé Ú; Địa chỉ: Số E, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- [2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Thạch Bé Ú đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
- [3]. Xét yêu cầu ly hôn của ông Khưu Hoàng P, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Khưu Hoàng P và bà Thạch Bé Ú chung sống với nhau và đăng ký kết hôn ngày 12/10/2018 trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56/2018, do Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp. Tại thời điểm kết hôn ông P và bà Ú đủ điều kiện kết hôn và thực hiện việc đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, ông P và bà Ú có thời gian chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Theo ông P nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính tình. Ông bà đã sống ly thân từ cuối tháng 02/2022 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau nữa. Mặc dù Tòa án đã tiến hành hòa giải để ông bà trở về đoàn tụ 02 lần nhưng bà Ú đều vắng mặt. Theo quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do đó, ông Khưu Hoàng P yêu cầu được ly hôn với bà Thạch Bé Ú là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [4]. Về con chung: Ông Khưu Hoàng P trình bày, ông bà có 03 người con chung tên Khưu Thị Ánh T, (nữ); sinh ngày: 19/11/2009; Khưu Thị Ánh L, (nữ); sinh ngày: 19/10/2011 và Khưu Hoàng Tấn L1, (nam); sinh ngày: 27/7/2017; Từ khi ông bà sống ly thân vào tháng 02/2022 thì 03 người con sống cùng ông P tại số B, đường L, Khóm A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi ly hôn ông Khưu Hoàng P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 người con chung cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu bà Thạch Bé Ú cấp dưỡng nuôi con.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu T, cháu L và cháu L1 do ông P trực tiếp nuôi dưỡng, cuộc sống của các cháu đang ổn định. Đồng thời tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu T và cháu L thì 02 cháu đều có nguyện vọng được sống cùng với ông P. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Khưu Hoàng P, giao cháu T, cháu L và cháu L1 cho ông K Hoàng P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Do đó, bà Thạch Bé Ú có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- [5]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Hội đồng xét xử xét thấy, tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định này thì bà Ú phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, ông P là người trực tiếp nuôi con và không yêu cầu bà Ú phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6]. Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [7]. Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn: Nguyên đơn ông Khưu Hoàng P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Khưu Hoàng P.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Khưu Hoàng P và bà Thạch Bé Ú.
- Về con chung: Giao 03 người con chung tên Khưu Thị Ánh T, (nữ); sinh ngày: 19/11/2009; Khưu Thị Ánh L, (nữ); sinh ngày: 19/10/2011 và Khưu Hoàng Tấn L1, (nam); sinh ngày: 27/7/2017 cho ông Khưu Hoàng P trực tiếp chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do ông Khưu Hoàng P không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Bà Thạch Bé Ú có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Khưu Hoàng P tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn: Ông Khưu Hoàng P phải chịu án phí sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0008713, ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Ông Khưu Hoàng P đã nộp xong án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thị Kim Hằng |
Bản án số 64/2023/HNGĐ-ST ngày 23/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 64/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn giữa Khưu Hoàng P- Thạch Bé U
