|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày: 23/7/ 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đính.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoá;
Ông Đỗ Việt Hùng.
Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh năm 1970; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm H, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Vũ Đ và bà Phạm Thị L ( đều đã chết); gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là thứ bảy; có vợ là Dương Thị C, sinh năm 1973 và 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2001;
Tiền án:
- - Ngày 03/6/2004, bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 03 tháng 27 ngày tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt.
- - Ngày 04/8/2005, bị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đến ngày 30/9/2011 chấp hành xong hình phạt.
- - Ngày 24/7/2015, bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đến ngày 16/6/2021 chấp hành xong hình phạt.
Tiền sự: Không
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2024 đến nay; Có mặt.
- - Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995; Có mặt.
- - Người chứng kiến: Ông Trương Văn T, sinh năm 1971; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 01/4/2024, Trần Văn Đ đi bộ từ nhà ra khu vực gần Ủy ban nhân dân xã N, huyện Nghĩa Hưng thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết để đi đến bến phà Thịnh Long thuộc xóm 7, xã Phúc Thắng, huyện Nghĩa Hưng. Sau đó, Đ đi bộ đến khu vực cảng cá Ninh Cơ thuộc Tổ dân phố số 18, thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu gặp và mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Đ cất giấu gói ma tuý vào túi quần rồi đi bộ về phía phà Thịnh Long để sang huyện Nghĩa Hưng tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực cổng cảng cá Ninh Cơ thì bị tổ công tác Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 - Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Công an thị trấn Thịnh Long phát hiện bắt quả tang vào hồi 11 giờ 15 phút cùng ngày, thu giữ trong túi quần lửng phía trước bên phải của Đ 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể dạng cục màu trắng (Niêm phong ký hiệu là A). Đ khai nhận đó là ma túy đá vừa mua để sử dụng cho bản thân.
Tại bản kết luận giám định số 669/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu A: 0,698 gam.
Cáo trạng số 65/CT-VKSHH ngày 10/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án đã thu giữ trong quá trình điều tra; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung vụ án đã nêu và hứa sửa chữa lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định cùng các tài liệu khác đã được lưu trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 11 giờ 15 phút, ngày 01/4/2024, tại khu vực cảng cá Ninh Cơ thuộc Tổ dân phố số 18, thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, tổ công tác của Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma tuý số 1 – Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Công an thị trấn Thịnh Long phát hiện bắt quả tang Trần Văn Đ đang có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Methamphetamine có khối lượng 0,698 gam để sử dụng. Do các năm 2004, 2005 và năm 2015 bị cáo đã bị Toà án kết án nhưng chưa được xoá án tích. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 03/6/2004, bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 03 tháng 27 ngày tù về tội “ Trộm cắp tài sản”; ngày 04/8/2005, bị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và ngày 24/7/2015, bị Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đến nay chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, sửa chữa lỗi lầm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng tặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt của bị cáo khi lượng hình.
[6] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà hôm nay là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo lời khai của bị cáo cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy, sau khi giám định xác định là Methamphetamine. Xét đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Đối với người đàn ông bán Methamphetamine cho bị cáo vào ngày 01/4/2024 tại khu vực cảng cá Ninh Cơ thuộc tổ dân phố số 18, thị trấn Thịnh Long do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh xử lý.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
1.1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2. Xử phạt Trần Văn Đ 6 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/4/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 669/GĐKTHS ngày 01/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
(Vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 22/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Trần Văn Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Đính |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
