|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày: 23-4-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Văn Tôn, nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
- Ông Nguyễn Văn Kỳ, nghề nghiệp: Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Thuận Thành, thành phố Phổ Yên.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Quách Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Bà Lê Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Cao Xuân M (tên gọi khác: không có), sinh ngày 01 tháng 7 năm 2006 tại Thái Nguyên (khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 01 ngày); nơi thường trú: xóm P, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Xuân C và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Nguyễn Bùi Nhật D (tên gọi khác: không có), sinh ngày 23 tháng 10 năm 2004 tại Thái Nguyên; nơi thường trú: tổ dân phố T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Bùi Thị M1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
1
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Cao Xuân M: Ông Cao Xuân C, sinh năm: 1983; địa chỉ: xóm P, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Cao Xuân M: Bà Nguyễn Thị D1, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
- Bị hại: Anh Phương Văn T, sinh năm: 2007; địa chỉ: xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đặng Thị S, sinh năm: 1974; địa chỉ: xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đặng Thị S, sinh năm: 1974; địa chỉ: xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm: 1987; địa chỉ: xóm L, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1971; địa chỉ: tổ dân phố T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Ông Cao Xuân C, sinh năm: 1983; địa chỉ: xóm P, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Phan Văn T1, sinh năm: 2005; địa chỉ: xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Dương Đức A, sinh năm: 1992; địa chỉ: tổ dân phố D, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 01/6/2023, Cao Xuân M gặp 01 người bạn của M tại khu vực gần quảng trường thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, quá trình nói chuyện người bạn này rủ M về phòng trọ chơi thì M đồng ý. Sau khi đến xóm trọ, M gặp anh Phương Văn T (sinh ngày 21/01/2007; trú tại xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) và anh Phan Văn T1 (sinh năm 2005; trú tại xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) tại xóm trọ thuộc tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó, cả nhóm cùng nhau uống rượu trong phòng trọ. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 02/6/2023, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, BKS 20C1-359.36 của T chở M đi cùng nhóm bạn ra quảng trường T, sau đó T1 đưa M đến quán bia “Dương X” gần xóm trọ của T1. M ngủ lại tại quán bia “D”, đến khoảng 10 giờ ngày 02/6/2023, M dậy rồi đi bộ quay lại phòng trọ của T1 và T. Khi đến phòng trọ, M quan sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, BKS 20C1-359.36 của T đang dựng ở trước cửa phòng nên M nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe. M mở cửa đi vào phòng thì thấy
2
T, T1 và 02 người nam giới đang nằm ngủ, M đã lén lút lấy chiếc chìa khóa xe mô tô để ở cửa sổ rồi đi ra khỏi phòng. M cắm chìa khóa xe mô tô vào ổ khóa rồi dắt chiếc xe ra khỏi dãy phòng trọ, sau đó M nổ máy và điều khiển xe đi về khu vực huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 12/6/2023, M gặp Nguyễn Bùi Nhật D (M quen D từ khoảng tháng 5/2023) tại tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên rồi cả hai điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, BKS 20C1-359.36 (là chiếc xe M đã trộm cắp của anh T) đến nhà D tại tổ dân phố T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó, M và D rủ nhau đến Khu công nghiệp Đ thuê trọ để ở cùng nhau và cùng sử dụng chiếc xe mô tô để đi lại. Quá trình sử dụng chiếc xe mô tô, M nói với D chiếc xe mô tô là của M. Đến ngày 15/6/2023, do hết tiền tiêu xài, M và D điều khiển chiếc xe mô tô đến cửa hàng dịch vụ mua bán xe mô tô “Văn Chất 886” tại xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên của anh Nguyễn Quốc V (sinh năm 1987; trú tại xóm L, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên), tại đây D trực tiếp đứng ra cầm cố chiếc xe mô tô được 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), khi cầm cố D có hứa với M là D sẽ có trách nhiệm xoay sở tiền để chuộc lại xe trả cho M, M đồng ý. Sau khi cầm cố xe, M và D đi thuê phòng trọ của anh Dương Đức A (sinh năm 1992) tại tổ dân phố D, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên để ở cùng nhau, tại đây M và D cùng nhau sử dụng số tiền đã cầm cố chiếc xe mô tô vào việc tiêu xài cá nhân hết. Đến chiều ngày 15/6/2023, D mang số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đến cửa hàng dịch vụ mua bán xe mô tô “Văn Chất 886” của anh Nguyễn Quốc V chuộc lại chiếc xe mô tô về cho M để cả hai có phương tiện đi lại. Khoảng hơn 01 tuần sau, lợi dụng lúc M đang ngủ trong phòng trọ, D đã lén lút điều khiển chiếc xe mô tô đi cầm cố tại cửa hàng dịch vụ mua bán xe mô tô “Văn Chất 886” được số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), V và D thỏa thuận viết giấy vay tiền, sau đó V đưa cho D 4.750.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Văn giữ lại 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền lãi, khi nào D quay lại trả tiền thì V sẽ tính lãi rồi trả lại cho D. Việc D mang chiếc xe mô tô đi cầm cố lần thứ hai này D không nói với M nên M không hề biết, số tiền từ việc cầm cố chiếc xe D đã tiêu xài cá nhân một mình, M không biết và không được sử dụng số tiền này. Khi về đến phòng trọ, M hỏi D chiếc xe mô tô đâu thì D nói lại với M về việc D đã mang chiếc xe đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Sau đó, M và D đến quán I tại thành phố S, tỉnh Thái Nguyên chơi điện tử và ở lại quán trong khoảng 20 ngày.
Sau khi phát hiện bị mất chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, BKS 20C1-359.36, anh Phương Văn T đã đến Công an phường H, thành phố P để trình báo. Ngày 11/7/2023, anh Nguyễn Quốc V đã giao nộp cho Công an phường H, thành phố P 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, BKS 20C1-359.36 để phục vụ quá trình điều tra, giải quyết vụ án. Quá trình xác minh ban đầu, Công an phường H đã triệu tập Cao Xuân M và Nguyễn Bùi Nhật D lên làm việc sau đó đã chuyển hồ sơ, vật chứng tới Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo quy định.
Tại bản Kết luận định giá số 66/KLĐG ngày 13/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P, kết luận: Giá trị còn lại của 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE alpha, màu sơn xanh-đen-bạc, BKS 20C1-359.36, đã qua
3
sử dụng, hiện trạng còn nguyên vẹn và sử dụng bình thường, trị giá là: 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE alpha, màu sơn xanh-đen-bạc, BKS 20C1-359.36, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của bà Đặng Thị S, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Đặng Thị S quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Cao Xuân C (sinh năm 1983; trú tại xóm P, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, là bố đẻ của Cao Xuân M) đã bồi thường cho bà Đặng Thị S số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Ông Nguyễn Văn H1 (sinh năm 1971; trú tại tổ dân phố T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, là bố đẻ của Nguyễn Bùi Nhật D) đã bồi thường cho anh Nguyễn Quốc V số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Bà S, anh V đã nhận tiền và không có yêu cầu gì thêm. Bà S có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Cao Xuân M và Nguyễn Bùi Nhật D.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSPY ngày 02/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Cao Xuân M và Nguyễn Bùi Nhật D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, vật chứng đã bị thu giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Xuân M và Nguyễn Bùi Nhật D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Bùi Nhật D từ 09 - 12 tháng tù.
Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt Cao Xuân M từ 06 - 09 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: do bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét.
Buộc bị cáo Nguyễn Bùi Nhật D phải chịu án phí, miễn án phí cho bị cáo Cao Xuân M. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Cao Xuân M nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc nhân thân bị cáo M là người dưới 18 tuổi nên còn hạn chế nhất định về nhận thức pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án treo.
Đại diện Viện kiểm sát không nhất trí với đề nghị của người bào chữa về việc cho bị cáo M được hưởng án treo vì quá trình điều tra và tại phiên toà thể hiện bị cáo là người điện tử, thường xuyên bỏ nhà đi lang thang, không có nơi cư
4
trú ổn định nên việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương sẽ không đảm bảo việc cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Do vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đối với bị cáo M, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 02/6/2023, tại tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Cao Xuân M đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, BKS 20C1-359.36 của anh Phương Văn T, trị giá 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng), đến ngày 15/6/2023 M cùng Nguyễn Bùi Nhật D đem chiếc xe mô tô trên đi cầm cố, được số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), M và D đã chi tiêu cá nhân hết. Đến chiều ngày 15/6/2023, D đi chuộc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, BKS 20C1-359.36 về cho M. Khoảng hơn 01 tuần sau, tại tổ dân phố D, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, D đã lén lút mang chiếc xe mô tô trên (D cho rằng chiếc xe mô tô thuộc sở hữu của M) đem đi cầm cố được số tiền 4.750.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền này một mình D tiêu xài cá nhân hết, M không biết và không được sử dụng.
Bản cáo trạng số 32/CT-VKSPY ngày 02/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Nội dung Điều 173 quy định:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của
5
công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Trong vụ án này, các bị cáo cùng thực hiện hành vi trộm cắp đối với một đối tượng tài sản trong các thời điểm khác nhau. Hành vi phạm tội của các bị cáo là độc lập, không có sự bàn bạc, trao đổi, nên mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập đối với hành vi mà bản thân đã thực hiện.
[4] Xét các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này, các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi xảy ra sự việc các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đại diện bị hại là bà Đặng Thị S xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên các bị cáo còn được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt đối với bị cáo: Các bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không tu chí, rèn luyện bản thân, có lối sống lệch lạc, không lành mạnh, vì nghiện điện tử nên dẫn đến con đường vi phạm pháp luật. Các bị cáo có thường xuyên bỏ nhà đi lang thang, sống tại các quán điện tử, không có nơi cư trú ổn định, gia đình các bị cáo không có biện pháp quản lý, giáo dục hiệu quả đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù giam, buộc các bị cáo cải tạo tập trung mới đảm bảo được tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo Cao Xuân M phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên khi lượng hình nên được hưởng chính sách đặc biệt đối với người chưa thành niên. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc nhân thân, tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo để đưa ra mức án phù hợp.
Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ được chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe mô tô hai bánh đã được trả lại cho bà Đặng Thị S quản lý là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Bùi Nhật D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Cao Xuân M có gia đình thuộc hộ cận nghèo nên được
6
miễn án phí. Bị cáo, người đại diện, người bào chữa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định.
[10] Trong vụ án này, Nguyễn Quốc V là người đã hai lần nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, BKS 20C1-359.36, quá trình điều tra xác định khi giao dịch với M và D, V không biết chiếc xe mô tô là tài sản do M và D trộm cắp mà có. Do vậy, không có căn cứ để xử lý Nguyễn Quốc V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với Dương Đức A là chủ phòng trọ do M và D thuê tại tổ dân phố D, phường B, thành phố S, quá trình điều tra xác định khi cho M và D thuê phòng trọ, Đức A không biết chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen-bạc, BKS 20C1-359.36 là tài sản trộm cắp mà có. Do vậy, không có căn cứ để xử lý Dương Đức A về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Bùi Nhật D;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự đối với Cao Xuân M;
Căn cứ Điều 123; Điều 136, Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bùi Nhật D, Cao Xuân M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1. Về hình phạt chính:
- - Xử phạt Nguyễn Bùi Nhật D 09 (C) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
- - Xử phạt Cao Xuân M 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Bùi Nhật D và Cao Xuân M thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2.2. Về hình phạt bổ sung:
Không áp dụng.
3. Về án phí sơ thẩm:
Buộc bị cáo Nguyễn Bùi Nhật D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cao Xuân M.
7
4. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Xuân Lộc |
8
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp
