Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC KẠN

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS - ST

Ngày 22/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đỗ Trung Xuân;

2/ Ông Triệu Đình Đường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Mai Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Viết H (tên gọi khác: Không); sinh ngày 01 tháng 9 năm 1980 tại tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT: Tổ G, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Bùi Viết H1 và bà: Trần Thị H2 (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.

Tiền án: 02 tiền án.

  • + Ngày 22/8/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố B) xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng. Ngày 20/01/2020, chấp hành xong hình phạt tù, hiện còn chưa chấp hành 3.789.000 đồng tiền phạt bổ sung.
  • + Ngày 30/9/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 08/01/2024 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, chưa được xóa án tích.

Nhân thân:

  • + Ngày 20/3/2003, bị Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố B) xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”;
  • + Ngày 25/11/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố B) xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”;
  • + Ngày 31/7/2007, bị UBND thị xã B (nay là thành phố B ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng;
  • + Ngày 30/11/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”;
  • + Ngày 21/6/2021, bị Công an phường Đ, thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000 đồng, ngày 21/6/2022 nộp xong tiền phạt.

Đối với các bản án và quyết định nói trên, Bùi Viết H đã được xóa án tích và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 10/4/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

  • + Ông Đỗ Mạnh T, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ H, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Bà Phan Thị Thu H3, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ H, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Viết L, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 09/4/2024, Bùi Viết H đến nhà ông Bùi Viết L (Sinh năm 1960, trú tại tổ G, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, là bác ruột của H) hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu sơn đen, biển kiểm soát 97F8 - 7517 của ông L để đi chợ. Mặc dù H hỏi mượn xe ông L để đi chợ nhưng mục đích H sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi quanh khu vực thành phố B tìm địa điểm nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi H điều khiển xe đến khu vực bãi đất trống đang san ủi cạnh Kho bạc nhà nước tỉnh B, thuộc tổ H, phường P, thành phố B, H phát hiện phía sau gara ô tô Mạnh T có để các loại đồ vật sửa xe ô tô được che phủ bằng một tấm bạt màu xanh. Thấy vắng vẻ, không có người qua lại nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H dựng chiếc xe mô tô ở trên đường đang thi công cách đó 30 mét rồi đi bộ lại gần khu vực phía sau ga ra ô tô Mạnh T. Khi đến chỗ có tấm bạt màu xanh, H dùng tay vén tấm bạt lên xem thì thấy có 01 (một) máy hút chân không và 01 (một) bơm trợ lực lái ô tô (mỗi cái đều đựng trong một túi nilon riêng) cùng nhiều đồ vật khác. Sau đó, H lấy 01 máy hút chân không và 01 bơm trợ lực rồi xách quay lại chỗ để xe mô tô. Vừa đi được khoảng 3 mét thì bị vợ chồng anh Đỗ Mạnh T (Sinh năm 1982) và chị Phan Thị Thu H3 (Sinh năm 1978) cùng trú tại tổ H, phường P, thành phố B là chủ gara ô tô Mạnh Tuấn phát hiện và hô “Trộm.....”. Biết bị phát hiện nên H bỏ chạy, anh T đuổi theo H còn chị H3 gọi điện thoại trình báo Công an phường P. H bỏ chạy cách vị trí xe mô tô được khoảng 10 mét thì vứt 02 (hai) túi đựng 01 máy hút chân không và 01 bơm trợ lực rồi tiếp tục chạy ra hướng trụ sở UBND thành phố B. H chạy đến khu vực đường T đoạn thuộc tổ G, phường P, thành phố B thì bị cán bộ Công an phường P đuổi kịp, bắt giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Viết H, tạm giữ 01 máy hút chân không, 01 bơm trợ lực, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37, mặt lưng màu vàng, đã qua sử dụng, phần mặt kính bị nứt vỡ góc dưới bên phải, bên trong có gắn 01 (một) sim số thuê bao là 0343.409.564 và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu sơn đen, biển kiểm soát 97F8 – 7517, đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe.

Ngày 10/4/2024, Công an phường P, thành phố B bàn giao hồ sơ, tang vật và đối tượng cho Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 48 ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • - 01 (một) máy hút chân không nhãn hiệu VALUE, màu sơn xanh – trắng đã qua sử dụng, giá trị tài sản là 650.000 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn đồng);
  • - 01 (một) bơm trợ lực lái xe ô tô, bên trên có nắp nhựa in dòng chữ “POWER STEERINGFLUID” bằng kim loại (sắt), giá trị tài sản là 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng);

Tổng giá trị tài sản là 2.050.000 đồng (hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Viết H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Tại Bản Cáo trạng số 50/CT - VKSTP ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Bùi Viết H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều luật có nội dung:

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản.

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

g) Tái phạm nguy hiểm

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Tại phiên toà:

  • * Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
  • Tuyên bố bị cáo Bùi Viết H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Về hình phạt chính: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Bùi Viết H từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 10/4/2024.
  • Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” đối với bị cáo.
  • Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Đỗ Mạnh T và chị Phan Thị Thu H3 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự do vậy đề nghị HĐXX không xem xét.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Tạm giữ của bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37, mặt lưng màu vàng, đã qua sử dụng, phần mặt kính bị nứt vỡ góc dưới bên phải, bên trong có gắn 01 (một) sim của mạng V, số thuê bao là 0343.409.564, để bảo đảm thi hành án.
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • * Bị cáo Bùi Viết H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo chỉ xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
  • * Người bị hại anh Đỗ Mạnh T và chị Phan Thị Thu H3 vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn trình bày rõ các bị hại đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Viết L vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn trình bày rõ ông đã được Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu sơn đen, biển kiểm soát 97F8 – 7517. Nay ông không có yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Viết H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do vậy có căn cứ xác định:

Ngày 09/4/2024, tại tổ H, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Bùi Viết H đã có hành vi trộm cắp 01 (một) máy hút chân không nhãn hiệu VALUE và 01 (một) bơm trợ lực lái xe ô tô, bên trên có nắp nhựa in dòng chữ “POWER STEERINGFLUID”, bằng kim loại, đều đã qua sử dụng của anh Đỗ Mạnh T và chị Phan Thị Thu H3 (chủ Gara ô tô Mạnh T), giá trị tài sản là 2.050.000 đồng (hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Ngay sau khi Bùi Viết H trộm cắp tài sản, chuẩn bị mang đi tiêu thụ thì bị anh T, chị H3 phát hiện, hô hoán và cùng với cán Bộ Công an phường P, thành phố B truy đuổi bắt quả tang, tạm giữ tang vật.

Quá trình điều tra xác định: Tại Bản án số 68/HSST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn xử phạt Bùi Viết H 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngày 08/01/2024 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 09/4/2024 bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khi chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, cần xử lý theo pháp luật hình sự.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị Tòa án xét xử nhiều lần về tội “Trộm cắp tài sản” vào các năm 2003, 2005, 2009; năm 2007 bị UBND thị xã B (nay là thành phố B ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; năm 2014 bị TAND thị xã Bắc Kạn (Nay là thành phố B) xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; năm 2021 bị Công an phường Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; năm 2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 08/01/2024 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, chưa được xóa án tích thì đến ngày 09/4/2024 lại thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” nêu trên. Bị cáo đã bị xét xử và đi chấp hành án nhiều lần nhưng vẫn không rút ra được bài học cho mình, không chịu tu dưỡng, rèn luyện thành công dân có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Qua đó thể hiện bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo, không có ý thức chấp hành pháp luật, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành một mức hình phạt tù nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Đỗ Mạnh T và chị Phan Thị Thu H3 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự do vậy HĐXX không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) máy hút chân không nhãn hiệu VALUE và 01 (một) bơm trợ lực lái xe ô tô, bên trên có nắp nhựa in dòng chữ “POWER STEERINGFLUID", bằng kim loại, đều đã qua sử dụng, đây là tài sản của anh Đỗ Mạnh T và chị Phan Thị Thu H3 (chủ Gara ô tô Mạnh Tuấn). Xét thấy, việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đỗ Mạnh T và chị Phan Thị Thu H3 là đúng quy định.
  • - Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu sơn đen, biển kiểm soát 97F8 - 7517, đã qua sử dụng cùng chìa khóa xe, qua điều tra xác định chủ sở hữu là ông Bùi Viết L (bác ruột của Bùi Viết H). Ngày 09/4/2024, khi H mượn xe mô tô và đi trộm cắp tài sản thì ông L không biết. Ngày 14/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B đã trả lại xe mô tô trên cho ông L là đúng quy định.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37, mặt lưng màu vàng, đã qua sử dụng, phần mặt kính bị nứt vỡ góc dưới bên phải, bên trong có gắn 01 (một) sim số thuê bao là 0343.409.564 của Bùi Viết H, không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Viết H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Bùi Viết H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 10/4/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  4. Tạm giữ của bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37, mặt lưng màu vàng, đã qua sử dụng, phần mặt kính bị nứt vỡ góc dưới bên phải, bên trong có gắn 01 (một) sim của mạng V, số thuê bao là 0343.409.564, để bảo đảm thi hành án.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  6. Bị cáo Bùi Viết H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  7. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  8. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND TP Bắc Kạn;
  • - Công an TP Bắc Kạn;
  • - THADS TP Bắc Kạn;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS - ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 64/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Viết Hằng phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger