Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 64/2024/HS-ST

Ngày: 22/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Kim Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Hoa

Ông Đỗ Thanh Đình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Nương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành T và bà Trần Thị Thu H – Kiểm sát viên.

Ngày 15/5/2024 và ngày 22/5/2024, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 257/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Lâm V sinh ngày 20 tháng 9 năm 1995, tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha không xác định, con bà Nguyễn Thị H1; vợ, con chưa có vợ con. Tiền án: Không. Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 01/6/2018, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiệm bắt buộc 15 tháng. Ngày 28/5/2019, chấp hành xong cai nghiệm bắt buộc tại Trung tâm C tại tỉnh Bình Dương. Ngày 17/12/2020, bị Tòa án nhân dân Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng. Ngày 12/8/2022, chấp hành xong cai nghiệm bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy số 2 tại tỉnh Lâm Đồng.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nguyễn Thành T1, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1986, tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T2 và bà Phan Thị Thanh X; vợ Lê Trần Hạ L, có 01 con sinh năm 2021. Tiền sự: Không. Tiền án: có 05 tiền án.

    Năm 2003, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 04/HSST ngày 18/10/2003), chưa được xoá án tích.

    Năm 2005, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 25/01/2006 chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích (Bản án số 24/HSST ngày 24/10/2005).

    Năm 2006, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, ngày 21/02/2008 chấp hành xong hình phạt tù (Bản án số 37/HSST ngày 10/11/2006).

    Ngày 30/5/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 96/HSST ngày 30/5/2013);

    Ngày 19/11/2013, bị Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản” (Bản án số 289/HSST ngày 19/11/2013). Ngày 18/9/2018, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Minh T3, sinh ngày 04 tháng 4 năm 1999, tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T4 và bà Lê Thị H2; vợ, con chưa có

    Tiền án: Không, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Trần Anh V1, sinh năm 1995; nơi thường trú: thôn T, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt ngày 15/5/2024, vắng mặt ngày 22/5/2024.
  • - Anh Nguyễn Thành L1, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
  • - Chị Phạm Thị Hồng T5, sinh năm: 1990; địa chỉ: Tổ D, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 4/2023, thông qua bạn bè ngoài xã hội, Lê Lâm V quen biết đối tượng H3 (V không rõ nhân thân lai lịch; chỉ biết sống tại thành phố Hồ Chí Minh) có bán ma túy. Để có tiền tiêu xài cá nhân, V nảy sinh ý định mua ma túy “đá” của đối tượng H3 đem về bán kiếm lời và cất giấu sử dụng. V dùng số điện thoại “0971.950.xxx” của mình liên lạc với đối tượng H3 mua ma túy “đá” với giá tiền 5.000.000 đồng. Ngày 16/4/2023, V nhận gói hàng có chứa ma túy “đá” do đối tượng H3 gửi về bằng xe khách Bắc Nam và đem về nhà (ở thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi) cất giấu, sau đó có lấy một ít sử dụng và số còn lại để bán cho người khác kiếm lời.

Sáng ngày 26/4/2023, V lấy một ít ma túy “đá” bỏ vào trong một túi ni lông rồi cất giấu trong túi sách với mục đích đem ra thành phố Q để bán khi có ai có nhu cầu (số ma túy còn lại V cất giấu tại nhà). V điều khiển xe mô tô 76D1 – 50502 từ xã P, thị xã Đ ra thành phố Q mang theo 01 túi ni lông chứa ma túy “đá” đến quán game bắn cá của Nguyễn Thành T1 trên đường H (thuộc tổ A, phường Q, thành phố Q). Tại đây, V gặp Nguyễn Thành T1 và Nguyễn Minh T3 và Nguyễn Thành L1 đang chơi game bắn cá. Trong lúc chơi game bắn cá có một người thanh niên (V không rõ nhân thân lai lịch) đến quán game hỏi mua ma túy “đá”, V đồng ý và nói người thanh niên ra trước quán đứng đợi. V lấy ma túy “đá” trong túi ni lông đang cất giấu phân thành một tép ma túy “đá” rồi ra bán cho người thanh niên với giá tiền 400.000 đồng rồi vào quán tiếp tục chơi game.

Trong quá trình nộp thẻ chơi game bắn cá, V thiếu nợ T1 số tiền là 3.500.000 đồng nhưng không đủ tiền trả nên V đặt vấn đề với T1 về việc bán số ma túy còn lại trong túi cho T1 với số tiền 1.000.000 đồng thì T1 đồng ý. Sau đó, V lấy túi ma túy “đá” bỏ lên bàn máy game bắn cá, T1 nói T3 đứng gần đó nhận số ma túy trên và đem túi ma túy “đá” ra phía sau quán cất giấu để cùng nhau sử dụng thì T3 mang túi ma túy “đá” bỏ vào một cái hộp (Loại hộp đựng bút) cất giấu vào trong nhà vệ sinh của quán game bắn cá.

Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố Q phát hiện, bắt quả tang đối với Nguyễn Minh T3 và Nguyễn Thành T1 về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Lê Lâm V về hành vi: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Kết quả trưng cầu giám định chất ma túy:

Tại bản kết luận giám định số: 478/KL-KTHS, ngày 04/5/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Q, kết luận:

  • - Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong phong bì thứ nhất gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0,60 gam.
  • - Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong phong bì thứ hai gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng mẫu: 1,48 gam.

Tại bản Cáo trạng số: 177/CT-VKS ngày 16 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố Lê Lâm V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nguyễn Thành T1 về tội “Tàng trữ tái phép chất ma tuý” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nguyễn Minh T3 về tội “Tàng trữ tái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo, đề nghị áp dụng:

  • Bị cáo Lê Lâm V: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Lâm V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • Bị cáo Nguyễn Thành T1: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T1 từ 06 năm đến 07 năm tù.
  • Bị cáo Nguyễn Minh T3: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T3 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Ý kiến tranh luận của các bị cáo: Thống nhất không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo, sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Lâm V, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Minh T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:

Lê Lâm V là người không có nghề nghiệp ổn định nên mua ma túy đem về nhà cất giấu nhằm bán lại kiếm tiền lời để có tiền tiêu xài cá nhân. Vào sáng ngày 26/4/2023 tại quán G ở đường H thuộc tổ A, phường Q, thành phố Q, Lê Lâm V có hành vi bán cho Nguyễn Thành T1 0,60 gam ma túy, loại Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Sau đó, Nguyễn Thành T1Nguyễn Minh T3 đem số ma túy trên cất giấu tại nhà vệ sinh của quán game bắn cá để cùng sử dụng thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi còn thu giữ số ma túy chưa bán được tại nhà Lê Lâm V là 1,48 gam ma túy, loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo Lê Lâm V đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của Nguyễn Minh T3 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn Thành T1 có 05 tiền án, cụ thể: Năm 2003, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 04/HSST ngày 18/10/2003), chưa được xoá án tích.

Năm 2005, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 24/HSST ngày 24/10/2005), ngày 25/01/2006 chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích

Năm 2006, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 37/HSST ngày 10/11/2006), ngày 21/02/2008 chấp hành xong hình phạt tù.

Ngày 30/5/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số: 96/HSST ngày 30/5/2013).

Ngày 19/11/2013, bị Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự. Ngày 18/9/2018, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

Căn cứ tài liệu xác minh thu thập được, các bản án nêu trên chưa được xoá án tích, nay bị cáo lại phạm tội mới do lỗi cố ý nên trong lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, sức khỏe, làm cho quần chúng Nhân dân hoang mang lo sợ nên cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật.

[4] Khi quyết định hình phạt cho các bị cáo, Hội đồng xét xử xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, tiền án, tiền sự và nhân thân của các bị cáo.

[4.1] Bị cáo Lê Lâm V: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Năm 2018, bị cáo V bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Năm 2020, bị Tòa án nhân dân Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

[4.2] Bị cáo Nguyễn Thành T1: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo T1 tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 58% (Theo Thông báo kết luận giám định số 134 ngày 29/8/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo là đối tượng thuộc diện khuyết tật dạng vận động mức độ nặng được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội theo Quyết định số: 225/QĐ-UBND ngày 09/01/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố Q ngày 09/01/2020 nên áp dụng điểm s, p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.3] Bị cáo Nguyễn Minh T3: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, có bà ngoại là Nguyễn Thị Q có công cách mạng nên áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Minh T3 bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 22/5/2024 là 01 năm 26 ngày. Hội đồng xét xử, tuyên phạt bị cáo mức án bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam là 01 năm 26 ngày tù, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.

[5] Bị cáo Lê Lâm V tại giai đoạn điều tra khai: Bị cáo mua 5.000.000 đồng ma túy, loại Methamphetamine mục đích để về sử dụng. Sáng ngày 26/4/2023, V lấy một ít ma túy “đá” bỏ vào trong một túi ni lông rồi cất giấu trong túi xách với mục đích đem ra thành phố Q để bán khi có ai có nhu cầu (số ma túy còn lại V cất giấu tại nhà). Tại quán game bắn cá, trên đường H thuộc tổ A, phường Q, thành phố Q có một người thanh niên (V không rõ nhân thân lai lịch) đến quán game hỏi mua ma túy “đá”, V lấy ma túy “đá” trong túi ni lông đang cất giấu phân thành một tép ma túy “đá” rồi ra bán cho người thanh niên với giá tiền 400.000 đồng. Số ma túy còn lại trong túi V bán cho T1 với số tiền 1.000.000 đồng. T1 nói T3 đứng gần đó nhận số ma túy trên và đem túi ma túy “đá” ra phía sau quán cất giấu để cùng nhau sử dụng thì T3 mang túi ma túy “đá” bỏ vào một cái hộp (loại hộp đựng bút) cất giấu vào trong nhà vệ sinh của quán G cá thì bị bắt quả tang. V khai số ma túy bị cáo cất giấu trong nhà tại thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi là của bị cáo mua vào ngày 14/4/2023 mục đích để bị cáo sử dụng. Sau đó, bị cáo V thay đổi lời khai, số ma túy khám xét nhà của bị cáo, bị cáo mua về để bán kiếm lời và lấy một số ít để sử dụng. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nhận thấy Lê Lâm V ngoài tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” Viện kiểm sát truy tố, bị cáo còn có dấu hiệu của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự nhưng chưa được điều tra, truy tố là bỏ lọt tội phạm. Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung (Quyết định số: 61/2023/HSST-QĐ ngày 01/12/2023). Tuy nhiên, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thành phố Q vẫn giữ nguyên kết luận điều tra, cáo trạng truy tố. Căn cứ theo quy định tại Điều 298 của Bộ luật Hình sự, giới hạn của việc xét xử, Tòa án xét xử bị cáo và hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố.

[6] Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - 0,46 gam mẫu ma túy loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định bên trong phong bì thứ nhất); 1,34 gam mẫu ma túy loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định bên trong phong bì thứ hai) tuyên tiêu hủy.
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm; 01 bình thủy tinh màu trắng, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 cái nỏ, đây là dụng cụ để bị cáo V sử dụng ma túy đá tuyên tiêu hủy.
  • - 01 túi xách dòng chữ GuangMing (đã qua sử dụng) đây là công cụ để bị cáo Lê Lâm V cất giấu ma túy tuyên tiêu hủy.
  • - 01 túi xách màu đỏ (đã qua sử dụng) thu giữ tại nhà, đây là công cụ để bị cáo Lê Lâm V cất giấu ma túy tuyên tiêu hủy.
  • - 01 hộp (loại hộp đựng bút) trên có dòng chữ Panda (đã qua sử dụng) T1, T3 dùng để cất giấu ma tuý tuyên tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu S (đã qua sử dụng) đây là điện thoại của bị cáo Lê Lâm V, bị cáo V sử dụng điện thoại này để mua ma túy của đối tượng H3 để thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
  • - 01 điện thoại hiệu Vivo, bên trong điện thoại có chứa thẻ sim của Nguyễn Thành T1 không liên quan đến hành vi phạm tội tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành T1.
  • - 01 xe mô tô biển kiểm soát 76B1- 603.28, màu xám đen (đã qua sử dụng). Qua điều tra xác định: Xe mô tô trên là của chị Phạm Thị Hồng T5 ( là người quen của bị cáo Nguyễn Thành T1) đứng tên giấy đăng ký xe. Ngày 25/4/2023, bị cáo T1 mượn xe mô tô trên để đi về nhà và qua điều tra xác định xe mô tô trên không liên quan đến vụ án nên trong giai đoạn điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Q đã trả lại xe trên cho chị T5 là chủ sở hữu hợp pháp.
  • - 01 xe mô tô loại Winnerx, biển kiểm soát 76D1- 505.02, màu đen xanh bạc (Đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong). Qua điều tra xác định: anh Trần Anh V1 (là em rễ của Lê Lâm V) mua lại của cửa hàng xe máy Trọng Mẫn, trong quá trình mua bán và sử dụng thì anh V không sang tên đổi chủ. Ngày 26/4/2023, bị cáo V mượn xe mô tô 76D1 – 505.02 để đi công việc, anh Trần Anh V1 không biết bị cáo V1 sử dụng xe máy trên để thực hiện hành vi mua bán ma túy nên trong giai đoạn điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Q đã trả lại xe trên cho anh Trần Anh V1 là chủ sở hữu hợp pháp.

[7] Các đối tượng liên quan trong vụ án:

  • - Đối tượng H3 (là người bán ma túy cho bị cáo Lê L2): Bị cáo V1 không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý.
  • - Đối với Nguyễn Thành L1 là người quen biết ngoài xã hội với bị cáo T1. Tại thời điểm xảy ra sự việc, Luật có mặt tại quán game nhưng Luật không biết việc bị cáo V1 bán ma túy cho bị cáo T1 và không biết bị cáo T1 mua ma túy, Thiệu cất giấu ma túy để sử dụng. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định Luật đồng phạm về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Đối tượng thanh niên mua 01 (một) tép ma túy “đá” với giá tiền 400.000 đồng của bị cáo Lê Lâm V: Bị cáo V không rõ nhân thân lai lịch của người thanh niên này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý. Do đó, không có căn cứ xác định bị cáo V phạm tội mua bán trái phép chất ma túy đối với lần mua bán này.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa về hình phạt, xử lý vật chứng và các vấn đề khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thành T1 có phần nghiêm khắc.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Lâm V, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Minh T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Lê Lâm V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Lâm V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 26/4/2023.

  2. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 50, điểm s, p khoản 1 Điều 51; Điều 38, 17, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 26/4/2023.

  3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 17, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T3 01 (một) năm 26 (hai mươi sáu) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 26/4/2023 đến ngày 22/5/2024, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.

  4. Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    4.1. T6 tiêu hủy: 0,46 gam mẫu ma túy loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định bên trong phong bì thứ nhất); 1,34 gam mẫu ma túy loại Methamphetamine (mẫu còn lại sau giám định bên trong phong bì thứ hai).

    • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm; 01 bình thủy tinh màu trắng, 01 ống hút nhựa màu tắng, 01 cái nỏ.
    • - 01 túi xách dòng chữ GuangMing (đã qua sử dụng);
    • - 01 túi xách màu đỏ (đã qua sử dụng);
    • - 01 hộp (loại hộp đựng bút) trên có dòng chữ Panda (đã qua sử dụng).

    4.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S;

    4.3. T6 trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành T1 01 điện thoại hiệu Vivo.

    (Vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/10/2023).

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Lê Lâm V, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Minh T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND Tp. Quảng Ngãi;
  • - CQCSĐT Công an Tp. Quảng Ngãi;
  • - Đội Điều tra tổng hợp Công an Tp. Quảng Ngãi;
  • - Cơ quan THAHS và HTTP Công an Tp. Quảng Ngãi;
  • - Chi Cục THADS Tp. Quảng Ngãi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Kim Loan

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đoàn Thị Hoa

Đỗ Thanh Đình

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Kim Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về vụ án hình sự

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Lâm V, Nguyễn Thành T, Nguyễn Minh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger