|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HN - ST Ngày: 21 - 8 - 2024 “V/v Tranh chấp về ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Ngài.
- Ông Nguyễn Văn Thắng.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Thị Cẩm Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhanh – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 237/2024/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024. Về tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST – HN ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Khánh L, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp I, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Ông Huỳnh Vũ L1, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp E, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Khánh L trình bày: Bà với ông Huỳnh Vũ L1 do mai mối, được gia đình hai bên đồng ý đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới năm 2023 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A. Nữ trang cưới có một đôi bông tai, 01 sợi dây chuyền và 01 vòng tay; tất cả nặng 05 chỉ vàng 24Kra, số vàng này sau khi cưới thì ông L1 đã bán và sử dụng vào việc riêng, hiện nay không còn.
Qua thời gian chung sống do không cùng quan điểm, ông L1 không tin tưởng bà, ông L1 không trung thực trong đời sống vợ chồng nên từ tháng 3/2024 thì vợ chồng đã ly thân nhau cho đến nay không hàn gắn được, cha mẹ hai bên có tổ chức hàn gắn nhưng không kết quả. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể hàn gắn lại với nhau được nữa, bà yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Vũ L1.
- - Về con chung: Không có.
- - Về tài sản chung; Về nợ chung phải thu, phải trả: Bà Ly khai không có, không yêu cầu giải quyết.
Theo lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Huỳnh Vũ L1 trình bày: Về hôn nhân do mai mối nhưng ông và bà L vẫn có tình cảm nên quyết định đi đến hôn nhân được sự đồng thuận của gia đình hai bên, có tổ chức lễ và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A A ngày 23/10/2023. Nữ trang cưới có cho nhưng ông đã mượn bán để làm ăn hiện nay không còn. Giữa ông và bà L không có mâu thuẫn gì chỉ do ông có lấy vàng cưới bán mà không hỏi ý bà L, nên bà L cho rằng ông không tôn trọng bà L và bà L đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở. Nay ông không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L.
- - Về con chung: Không có, nhưng hiện nay bà L đang mang thai khoảng 4 hay 5 tháng.
- - Về tài sản chung; Về nợ chung phải thu, phải trả: Ông L1 khai không có, không yêu cầu giải quyết.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long trình bày quan điểm cho rằng:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định theo Điều 48 của Bộ Luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp tống đạt các văn bản tố tụng, đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn và bị đơn thực hiện đúng theo quy định Điều 70, 71, 72 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật có liên quan. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Khánh L yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Vũ L1.
- Về con chung; Về tài sản chung; Về nợ chung phải thu phải trả: Không có, đề nghị không xem xét.
- Về án phí: Đương sự có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật, trừ trường hợp miễn nộp hoặc không phải nộp.
Tại phiên tòa có mặt bà Trần Thị Khánh L là nguyên đơn và ông Huỳnh Vũ L1 là bị đơn. Các đương sự có mặt vẫn giữ lời trình bày và yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự trong vụ án và quan điểm của Viện kiểm sát. Tòa án nhân dân huyện Càng Long nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông L1. Đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà L có nơi cư trú tại ấp I, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh; ông L1 có nơi cư trú tại ấp E, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Càng Long có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về nội dung:
[3] Bà L và ông L1 xác lập quan hệ hôn nhân năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh theo quy định của pháp luật được thể hiện tại giấy chứng nhận kết hôn số 67/2023 ngày 23/10/2023. Từ đó xác định hôn nhân giữa bà L và ông L1 hôn nhân hợp pháp.
[4] Xét về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo bà L cho rằng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hằng ngày, ông L1 không trung thực trong đời sống vợ chồng, không tôn trọng bà làm cho gia đình không hạnh phúc và đã ly thân nhau từ năm 2023 cho đến nay không hàn gắn được. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông L1.
Theo ông L1 thì cho rằng giữa ông và bà L không có mâu thuẫn gì, chỉ do ông đã lấy vàng cưới bán để đi học nghề quay vịt mà không hỏi ý kiến của bà L, từ đó bà L cho rằng ông không tôn trọng bà L nên không về bên nhà ông nữa và vợ chồng đã ly thân nhau cho đến nay. Ông và gia đình hai bên đã tìm cách hàn gắn nhiều lần nhưng bà L không đồng ý.
Căn cứ vào biên bản xác minh từ phía địa phương, cùng người nhà của bà L (cụ thể là bà Bùi Thị Hồng Y mẹ ruột bà L) và phía người nhà của ông L1 (cụ thể là bà Trương Thị T mẹ ruột ông L1) cung cấp như sau: Mâu thuẫn giữa bà L và ông L1 xảy ra là do ông L1 đã lấy vàng cưới bán nhưng không hỏi ý kiến bà L, bà L cho rằng ông L1 không trung thực, không tôn trọng bà L; từ đó mà bà L về nhà cha mẹ ruột sống, không về bên nhà ông L1 nữa; ngoài ra vợ chồng cũng không còn mâu thuẫn gì khác. Từ đó nhận thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông L1 chưa đến mức trầm trọng, vợ chồng còn có thể vun vén nhường nhịn, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc; mặt khác thì bà L và ông L1 đều thừa nhận hiện bà L đang mang thai, khi sinh ra thì con của ông bà cũng cần có đầy đủ tình thương của ông bà. Từ đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L là phù hợp với quy định của pháp luật. Chấp nhận yêu cầu xin đoàn tụ của ông L1.
Do yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà L không được chấp nhận nên về tài sản chung và về nợ chung phải thu, phải trả Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà L có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Khánh L yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Vũ L1.
- Về con chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung; về nợ chung phải thu, phải trả: Đương sự chưa đặt ra yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Khánh L có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân. Đối với số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003279 ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long được khấu trừ số tiền án phí mà bà L có nghĩa vụ chịu, do đó bà L không phải nộp. Ông Huỳnh Vũ L1 không phải chịu án phí sơ thẩm.
“ Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết ”.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 64/2024/HN - ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 64/2024/HN - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa bà L với ông L1
