TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2025/HNGĐ-ST
Ngày 16/12/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đậu Cao Nhu và bà Phan Thị Đóa
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Tình, Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 268/2025/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 11 năm 2025; về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1991; CCCD số [...]; Nơi cư trú: K, phường H, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng D, sinh năm 1991; CCCD số [...]; Nơi cư trú: K, phường H, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/11/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Hồng D lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 06/6/2011 tại UBND xã Q (nay là UBND phường H), tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuân do không hợp tính cách, không còn tình cảm, ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chị xin được ly hôn anh D. Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Đình K, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Đình K1, sinh ngày 15/02/2020, ly hôn chị đề nghị giao cả hai con chung cho anh D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 18/11/2025 bị đơn anh Nguyễn Hồng D trình bày: Anh thống nhất về thời gian và điều kiện kết hôn như chị L trình bày. Vợ chồng chung sống thời gian đầu có hạnh phúc nhưng về sau thường xuyên có mâu thuẫn, chị L đi làm ăn xa đẩy mâu thuẫn ngày càng căng thẳng hơn và sống ly thân từ năm 2020 đến nay, chị L đề nghị ly hôn anh đồng ý. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Đình K, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Đình K1, sinh ngày 15/02/2020 ly hôn anh có nguyện vọng nuôi cả hai con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/11/2025 ông Nguyễn Thế D1 (bố đẻ anh D) cung cấp: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh D, chị L như thế nào thì ông không nắm được có lẽ do khoảng cách địa lý vợ chồng ở xa nhau nên tình cảm rạn nứt. Tòa án đã tống đạt các tài liệu cho anh D ông đã nhận được và đã thông báo, chụp ảnh gửi qua điện thoại cho anh D nhưng vì công việc anh D không về và có ý kiến với ông là “việc chị Nguyễn Thị L đề nghị ly hôn thì anh D đồng ý; về con: vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Đình K, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Đình K1, sinh ngày 15/02/2020 ly hôn anh có nguyện vọng nuôi cả hai con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con; về tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay anh D đang đi làm ăn tại Thành phố Hồ Chí Minh không thể có mặt để giải quyết ly hôn tại Tòa án nên anh D đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh”.
Ý kiến cháu K: xin được ở với bố Nguyễn Hồng D;
Kết quả xác minh tại UBND phường H: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Hồng D có đăng ký kết hôn tại UBND phường H. Trong quá trình chung sống giữa chị L và anh D không hòa thuận đã ly thân hơn 04 năm nay. Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Đình K, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Đình K1, sinh ngày 15/02/2020 hiện đang ở với ông bà nội. Nay vợ chồng ly hôn, tranh chấp về nuôi con đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Kết quả xác minh tại Công an phường H: Anh Nguyễn Hồng D, sinh năm 1991; Căn cước công dân số [...] có đăng ký thường trú tại khối A, phường H, tỉnh Nghệ An. Tại thời điểm xác minh anh D không có mặt tại địa phương, không có thông tin anh D đi nước ngoài.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 227,228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Hồng D. Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Đình K, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Đình K1, sinh ngày 15/02/2020 cho anh Nguyễn Hồng D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị L vì anh D không yêu cầu. Chị Nguyễn Thị L có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản: Không ai yêu cầu nên miễn xét.Về án phí ly hôn sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của nguyên đơn và ý kiến của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Hồng D có nơi thường trú ở phường H, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 điều 28, điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.
- Về việc xét xử vắng mặt: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Hồng D là hợp pháp vì tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo luật định. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Anh D đi làm ăn xa không sắp xếp được công việc nên không đến Tòa án để giải quyết, vụ án không hòa giải được. Qua lời trình bày của chị L và kết quả xác minh cho thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh D đã thật sự trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được cần áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị L được ly hôn anh D.
[2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Đình K, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Đình K1, sinh ngày 15/02/2020. Chị L, anh D thống nhất giao con cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con; phù hợp ý kiến của cháu K, hiện nay cháu K và cháu K1 đang ở với bố, có cuộc sống, học tập ổn định, thể chất phát triển khỏe mạnh, nên ghi nhận sự thỏa thuận thống nhất của vợ chồng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, người trực tiếp nuôi con có thể bị thay đổi theo quy định pháp luật.
[3] Về tài sản: Không ai yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Các điều 28,35,39,147,227,228; khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Hồng D.
2. Về con chung:
Giao con Nguyễn Đình K, sinh ngày 02/6/2013; Nguyễn Đình K1, sinh ngày 15/02/2020 cho anh Nguyễn Hồng D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị L vì anh D không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, người trực tiếp nuôi con có thể bị thay đổi theo quy định pháp luật.
3. Về tài sản: Không ai yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0002491 ngày 10 tháng 11 năm 2025.
5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Thắng |
Bản án số 64/2025/HNGĐ-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 64/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
