Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:64/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-6-2025

V/v “Không công nhận quan hệ vợ

chồng và giải quyết việc nuôi

con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Vân

2. Bà Thân Thị Tuyết Nhung

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hải Đăng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang:

Không tham gia phiên toà

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 349/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng và giải quyết việc nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị M, sinh ngày 22/11/1990 (Xin xét xử vắng mặt)

HKTT: Tổ dân phố H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

Nơi ở hiện nay: Số D, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Số CCCD: [...], do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 22/6/2022.

-Bị đơn: Ông Nguyễn Văn X, sinh ngày 21/10/1960 (Xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Vĩnh Ninh 1, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

Số CCCD : [...], do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/6/2022.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/6/2025 và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Trịnh Thị M trình bày:

Về quan hệ vợ chồng: Chị và ông Nguyễn Văn X quen biết với nhau qua một số người bạn sau đó phát sinh quan hệ tình cảm với nhau và chung sống với nhau nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, cũng chưa được tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Do vậy, chị xác định chị và ông X không phải là vợ chồng hợp pháp của nhau. Đến nay, giữa chị và ông X có xảy ra một số tranh chấp, chị xác định không thể chung sống cùng với ông X nên chị đề nghị Toà án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và ông X.

Về con chung: Quá trình chung sống cùng ông X thì giữa chị và ông X có 01 con chung là cháu Nguyễn Kiến B, sinh ngày 11/9/2024. Việc xác định con chung thì chị và ông X cũng đã làm thủ tục xét nghiệm ADN tại cơ quan có thẩm quyền, được UBND phường Đ, thành phố B cấp giấy khai sinh số 07 ngày 15/01/2025 cho cháu B. Nay chị đồng ý để ông X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B vì chị hiện nay đang làm thủ tục đi lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo việc nuôi cháu B. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị và ông Xuân T thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn ông Nguyễn Văn X trình bầy:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và chị Trịnh Thị M quen biết với nhau sau đó có nảy sinh quan hệ tình cảm, chung sống với nhau. Tuy nhiên, giữa ông và chị M chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn, chưa tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Quá trình chung sống thì xảy ra nhiều vấn đề tranh chấp và có 01 con chung. Nay ông xác định không thể chung sống cùng chị M nên chị M đề nghị Toà án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị M và ông thì ông hoàn toàn nhất trí.

Về con chung: Quá trình chung sống cùng chị M thì giữa chị M và ông có 01 con chung là cháu Nguyễn Kiến B, sinh ngày 11/9/2024. Việc xác định con chung này thì chị M và ông cũng đã làm thủ tục xét nghiệm ADN tại cơ quan có thẩm quyền, được UBND phường Đ, thành phố B cấp giấy khai sinh số 07 ngày 15/01/2025 cho cháu B. Nay chị M đồng ý để ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B thì ông nhất trí. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung ông không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị và ông Xuân T thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên toà theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn chị Trịnh Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án “Không công nhận quan hệ vợ chồng và giải quyết việc nuôi con chung” giữa chị và ông Nguyễn Văn X nên cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp ở đây là “Không công nhận quan hệ vợ chồng và giải quyết việc nuôi con chung”. Bị đơn ông Nguyễn Văn X hiện đang cư trú tại tổ dân phố V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trịnh Thị M và ông Nguyễn Văn X xác định có quan hệ tình cảm nhưng không có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý”. Vì vậy, quan hệ giữa chị M và ông X không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Quá trình chung sống, chị M và ông X đã phát sinh mâu thuẫn. Đến nay chị M và ông X đều đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận chị Trịnh Thị M và ông Nguyễn Văn X là vợ chồng theo quy định tại Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.2] Về con chung: Chị M và ông X đều xác định quá trình chung sống, chị M và ông X có 01 con chung là cháu Nguyễn Kiến B, sinh ngày 11/9/2024. Việc thừa

nhận con chung được thực hiện thông qua việc giám định ADN của cơ quan có thẩm quyền. Cháu B đã được UBND phường Đ cấp Giấy khai sinh số 07 ngày 15/01/2025. Nay chị M, ông X đều đề nghị Toà án giao cháu B cho ông X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu này của chị M và ông X, giao cháu B cho ông X chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị M, ông X không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[3.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị M, ông X không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án để buộc chị M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

Ngoài ra, cần áp dụng các Điều 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9 Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

2. Xử:

2.1. Về quan hệ vợ chồng: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Trịnh Thị M và ông Nguyễn Văn X.

2.2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Kiến B, sinh ngày 11/9/2024 cho ông Nguyễn Văn X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

2.3. Về án phí: Chị Trịnh Thị M phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0002862 ngày 03/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

2.4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

2.5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - UBND phường Đa Mai, thành phố Bắc Giang.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Thị Thanh Quyên

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng và giải quyết việc nuôi con chung

  • Số bản án: 64/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng và giải quyết việc nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hị Trịnh Thị M đề nghị không công nhận QHVC và giải quyết việc nuôi con chung với ông Nguyễn Văn X
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger