|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số:64/2025/HS-ST Ngày: 28/5/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Kim Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Châu Bích Phượng - Hưu trí
- 2/ Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Bí thư xã Đoàn Vĩnh Kim
-Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mai Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2025/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Võ Thị Ngọc L, sinh năm 1961 tại tỉnh Tiền Giang; CCCD: [...];
nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn C (đã chết) và bà Đỗ Thị N (đã chết); bị cáo có chồng là Đỗ Văn Đ (đã chết), có 02 người con, con lớn sinh năm 1980, con nhỏ sinh năm 1984.
Tiền sự: không.
Tiền án: 01 lần, ngày 09/6/2022 bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 69/2022/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023.
Nhân thân: Ngày 20/8/2008 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 33/2008/HS-ST.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Mai Thị Thanh N1, sinh năm 2010 (vắng mặt)
Đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị D, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1/ Nguyễn Thị D, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang
- 2/ Trần Văn H, sinh năm 1957 (có mặt)
- Địa chỉ: ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 14/01/2025, Võ Thị Ngọc L điều khiển xe đạp đi bán vé số trên Huyện lộ 32 hướng về vòng xoay Thân Cửu N2, khi đến nhà chị Nguyễn Thị D thấy mở cửa nên L đậu xe ở lề đường, đi bộ vào phía sau nhà. Lúc này, cháu Mai Thị Thanh N1 là con của chị D vừa về nhà nhìn thấy L, do trước đó chị D có đưa cho N1 số tiền 6.170.000 đồng, dặn đưa cho ông Trần Văn H nên N1 hỏi L “Bà tìm ai? Đến lấy tiền rau cho ông H đúng không”, lúc này L nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền nên trả lời “Ừ”. Ngăn tin tưởng đây là người ông H nhờ đến lấy tiền nên đưa cho L số tiền 6.070.000 đồng. L đem về nhà cất giấu dưới thảm đỏ trên bàn thờ ông địa. Chiều cùng ngày ông H đến lấy tiền rau thì N1 nói đã đưa cho một người phụ nữ đi xe đạp đến lấy, ông H nói không có nhờ ai đến lấy tiền, chị D biết bị lừa nên trình báo Công an, từ đó sự việc L lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị phát hiện.
Vật chứng đồ vật thu giữ:
- - 01 bộ quần áo nữ màu đỏ, trắng.
- - 01 nón lá.
- - 01 khẩu trang y tế màu xanh.
- - 01 đôi dép màu vàng.
- - 01 xe đạp màu trắng, có giỏ xe phía trước.
- - 01 áo thun nền xanh dấu trắng tròn dài tay.
- Số tiền Việt Nam trị giá 6.000.000 đồng. Ngày 26/01/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã trao trả lại cho chị Nguyễn Thị D.
- 01 đoạn dữ liệu camera ngày 14/01/2025 có thời lượng 02 phút 25 giây.
Bản cáo trạng số 61/CT-VKSCT ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Võ Thị Ngọc L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và không thay đổi. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có tình tiết tăng nặng quy định tại điềm h, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 174, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h, i khoản 1 Điều 52, điều 32, 38, 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: không yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 bộ quần áo nữ màu đỏ, trắng; 01 nón lá; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 đôi dép màu vàng; 01 áo thun nền xanh dấu trắng tròn dài tay. Trả lại cho bị cáo 01 xe đạp màu trắng, có giỏ xe phía trước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị D vắng mặt không tham dự phiên tòa. Xét bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong quá trình điều tra nên sự vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra truy tố xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận vào ngày 14/01/2025 đã có hành vi gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tiền của cháu Mai Thị Thanh N1 như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Xét lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tổng số tiền bị cáo L lừa đảo chiếm đoạt là 6.070.000 đồng. Do đó hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[4] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ nhận thức để biết hành vi gian dối lợi dụng sự tin tưởng của bị hại để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu có tiền tiêu xài cá nhân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, do đó cần xử phạt nghiêm khắc.
[5]Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với người dưới 16 tuổi, bị cáo đã có 01 tiền án, chưa được xoá án tích là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đủ cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng để phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.
[6] Về trách nhiệm dân sự: chị Nguyễn Thị D đã nhận lại số tiền 6.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 bộ quần áo nữ màu đỏ, trắng; 01 nón lá; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 đôi dép màu vàng; 01 áo thun màu xanh dấu trắng tròn dài tay là tài sản của bị cáo, bị cáo không có nhu cầu nhận lại, tài sản không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Trả lại cho bị cáo 01 xe đạp màu trắng, có giỏ xe phía trước.
Lưu vào hồ sơ vụ án 01 đoạn dữ liệu camera ngày 14/01/2025 có thời lượng 02 phút 25 giây.
[8] Xét quan điểm luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo Võ Thị Ngọc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Thị Ngọc L phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 174, điều 38, 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Võ Thị Ngọc L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự và điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự.
Ghi nhận bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì khác.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 47 Bộ luật hình sự
Tịch thu tiêu huỷ: 01 bộ quần áo nữ màu đỏ, trắng; 01 nón lá; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 đôi dép màu vàng; 01 áo thun màu xanh dấu trắng tròn dài tay.
Trả lại cho bị cáo 01 xe đạp màu trắng, có giỏ xe phía trước.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/4/2025 tại Chi cục Thi hành án án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Về án phí:
Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Kim Hà |
Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 64/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Võ Thị Ngọc Liên phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
