TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2025/DS-PT Ngày: 03-4-2025 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Dũng
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2024/TLPT- DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1965
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1971
Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1956
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Đặng Thị L, sinh năm 1971
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1960
- Bà Phạm Thị X, sinh năm 1962
- Bà Phạm Thị M1, sinh năm 1973
- Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1969
Địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Trần Văn L2, sinh năm 1988
Địa chỉ: Khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Trần Thị Q, sinh năm 1994
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1960
Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận
Do có kháng cáo của: Nguyên đơn ông Phạm Ngọc T; bị đơn ông Phạm Văn C; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1.
Tại phiên toà, có mặt: Ông Phạm Ngọc T, ông Phạm Văn C, bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1, bà Phạm Thị H, bà Trần Thị Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện ngày 06/6/2016, bàn khai và lời khai của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T trình bày:
Về quan hệ gia đình của ông như sau: Cha Phạm T2, chết năm 2014; Mẹ: Nguyễn Thị H1, chết ngày 08 tháng 02 năm 2015; Ông nội: Không biết tên, chết từ lâu không rõ năm, chết trước cha mẹ; Bà nội: Không biết tên, chết từ lâu không rõ năm, chết trước cha mẹ; Ông ngoại: Không biết tên, chết từ lâu không rõ năm, chết trước cha mẹ; Bà ngoại: Không biết tên, chết từ lâu không rõ năm, chết trước cha mẹ; Cha mẹ sinh ra 08 người con, theo thứ tự sau: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1956; Bà Phạm Thị Đ (đã chết vào năm 2000); Bà Phạm Thị H, sinh năm 1960; Bà Phạm Thị X, sinh năm 1962; Ông Phạm Ngọc T - là ông; Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1969; Ông Phạm Văn C, sinh năm 1970; Bà Phạm Thị M1, sinh năm 1973. Bà Đinh C1 có 02 con là: Anh Trần Văn L2, sinh năm 1988 và chị Trần Thị Q, sinh năm 1994. Ông Phạm Ngọc T xác định cha mẹ ông chết để Tờ di chúc ngày 10/11/1992 và ông yêu cầu chia tài sản theo di chúc này. Nội dung Tờ di chúc như sau: Tôi tên là Phạm T2 sinh năm 1919, tại N, giấy chứng minh nhân dân số 26010124, vợ tên là Nguyễn Thị H1 – sinh năm 1927, tại H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, giấy chứng minh nhân dân số [...]. Gia đình chúng tôi hiện đăng ký hộ khẩu và cư trú tại Hợp tác xã N, huyện H.
Trước lúc trăm tuổi già chồng vợ tôi có lập tờ di chúc này để ghi lưu lại lời nói của mình cho các con của chúng tôi sau này theo đó mà cư xử, đùm bọc nhau lúc mà cha mẹ đều không còn nữa. Và trước khi lập tờ di chúc này, chồng vợ tôi đã sum họp các con kể cả trai gái để có sự bàn định sắp xếp trong gia đình rồi đi đến thông cảm cùng nhất trí lập tờ như sau đây:
Lúc xuân thời chồng vợ tôi có sinh hạ được tám đứa con là:
- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1956
- Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1957
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1960
- Bà Phạm Thị X, sinh năm 1962
- Ông Phạm Ngọc T - là ông
- Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1969
- Ông Phạm Văn C, sinh năm 1970
- Bà Phạm Thị M1, sinh năm 1973
Trước đây trong thời kỳ kháng pháp, sau khi chúng tôi gặp nhau xây dựng hạnh phúc gia đình vì nghèo nên do sự cần cù làm ăn bằng công sức lao động để mà khai hoang, bới xới vun trồng quanh năm suốt tháng cộng vào sự tiện tặn dành dụm nên ngoài chén cơm tấm áo cho gia đình đến hôm nay chồng vợ tôi còn lại chút tài sản nhỏ nhen gồm có:
- Ruộng gieo trồng lúa có diện tích là hai sào tư.
- Đất vườn đất im có diện tích là ba sào chín bảy mươi thước.
- Đất thổ cư có diện tích là hai sào hai.
Tổng cộng diện tích ruộng và đất là tám sào rưỡi sáu mươi tám thước rưỡi do công sức chồng vợ tôi khai phá bới xới theo ven sa động dầu ông T3 thuộc khu vực Láng nhỏ Tuỳ Hoà cũ – cùng một khoảng thổ cư diện tích ba trăm thước vuông đã mua đứt của ông Nguyễn Văn L3, bà Thái Thị M2 vào năm 1962.
- Về nhà cửa: Có một số nhà đã xây cất trên khoảng đất thổ cư ba trăm thước vuông ở về hướng Đ mẫu giáo H, gần cửa 1 nhà trước, kiềng đá vách gạch lợp mái ngói mốc với một nhà sau cũng ba căn song kiềng đá vách gạch lợp ngói âm dương và tôle. Với sở nhà chỉ có một cái cũng ba căn sang nên vách đất, cây cột và lợp bằng tôle đã cất trên vạc đất thổ cư trong động cát để làm nơi ăn ở canh tác, sản xuất ruộng vườn. Cả hai sở nhà này đều có đủ đồ dùng như tủ, bàn ghế, giường ván, lu mái ... Ngoài hai sở nhà này còn có một bộ gỗ nhà giàng trên như trính, kèo, đòn tay, ron lách và một số cửa lớn nhỏ đủ khuôn nội, ngoại là tám bộ và một số đá chẻ đủ xây một kiềng nhà ba căn.
- Về gia súc: Còn 7 con bò cái nái lớn nhỏ và bốn con bò đực cày (ngoại trừ những con bò cái nái mà đã đưa cho các con trước đây). Hiện giờ chồng vợ tôi đã già yếu không còn sức lao động để đảm đang công việc làm ăn nhiều nữa nên đem số tài sản nói trên chia sẻ cho các con mỗi đứa đều có phần ăn dứt khoát kể cả trai gái đều có mỗi phần thực tế như sau:
Phần thứ nhất: Đã cho đứa con gái tên Pham Thị B trước đây là 3 chỉ vàng y, hai con bò cái cùng một số đất im của chồng vợ tôi còn quản lý để thêm vào diện tích ruộng mà HTX cấp khoán để canh tác làm ăn hơn vài năm nay rồi (diện tích HTX đã có ghi để tính thuế nông nghiệp).
Phần thứ 2: Đã cho đứa con gái tên Phạm Thị Đinh trước Đ1 là 3 chỉ vàng y, hai con bò cái cùng một số đất im của chồng vợ tôi còn quản lý để thêm vào diện tích ruộng mà HTX cấp khoán để canh tác làm ăn hơn vài năm nay rồi (diện tích HTX đã có ghi để tính thuế nông nghiệp).
Phần thứ 3: Đã cho đứa con gái tên Phạm Thị H trước đây là 3 chỉ vàng y, hai con bò cái cùng một số đất im của chồng vợ tôi còn quản lý để thêm vào diện tích ruộng mà HTX cấp khoán để canh tác làm ăn hơn vài năm nay rồi (diện tích HTX đã có ghi để tính thuế nông nghiệp).
Phần thứ 4: Đã cho đứa con gái tên Phạm Thị X trước đây là 3 chỉ vàng y, hai con bò cái cùng một số đất im của chồng vợ tôi còn quản lý để thêm vào diện tích ruộng mà HTX cấp khoán để canh tác làm ăn hơn vài năm nay rồi (diện tích HTX đã có ghi để tính thuế nông nghiệp).
Phần thứ 5: Đã cho đứa con gái tên Phạm Thị L1 trước đây là 3 chỉ vàng y, hai con bò cái cùng một số đất im của chồng vợ tôi còn quản lý để thêm vào diện tích ruộng mà HTX cấp khoán để canh tác làm ăn hơn vài năm nay rồi (diện tích HTX đã có ghi để tính thuế nông nghiệp).
Phần thứ 6: Giao cho đứa con trai tên Phạm Ngọc T gồm cái nhà trước của sở nhà, 2 cái đã xây cất trên nửa khoảng đất thổ cư ở phía hướng Đông (đất ở sau trường M4) cùng tất cả đồ dùng trong nhà này như: Tủ, bàn ghế, giường, ván, lu mái cùng với một số đất vườn, đất im của chồng vợ tôi còn quản lý có diện tích hơn một sào rưỡi: Đông giáp Sa động, Tây giáp: đất của Phạm Thị Đ2, Nam giáp biên đất của bà 8 phổ và ông 6 trường có cặp mươn nước, Bắc giáp: biên đất của Phạm Văn C và T cũng đã nhận ba chỉ vàng y trong ngày cưới vợ trước đây.
Phần thứ 7: Giao cho đứa con tên Phạm Văn C gồm có bộ đồ gỗ nhà, trính, kèo, đòn tay, ron, lách, số đá chẻ, số cửa là 8 bộ cùng với sở nhà một cái vách đất lợp tôle trong vườn và tất cả đồ dùng trong nhà như: tủ, bàn, ghế, gường, ván, lu mái... với 4 con bò đực cày cùng một số đất thổ cư, đất vườn đất im có diện tích hơn một sào rưỡi. Đông giáp: Sa động. Tây giáp: Biên đất Pham Thị H2. Nam giáp biên đất Phạm Ngọc T. Bắc giáp biên đất Pham Thị X1 và Phạm Thị Đ2. Xem như số đất vườn đất im và thổ cư đã chia thêm cho các đứa con gái rồi, còn lại chia làm đôi cho T một nữa và Cao một nữa, và C cũng đã nhận được 3 chỉ vàng y trong ngày xây dựng hạnh phúc gia đình trước đây.
Phần sau cùng: Là của đứa con gái út tên Phạm Thị M1 vì còn độc thân ăn ở theo cha mẹ nhưng chồng vợ tôi cũng đã có cho hẳn nó 2 con bò cái, tính mãi đến hôm nay đã sanh đẻ 03 con nữa, như vậy con M1 đã có 5 con bò để làm vốn rồi. thêm vào đó M1 cũng đã được cho 03 chỉ vàng y với nửa cái vườn dừa đã ăn quả trong cái vườn dừa mà chồng vợ tôi đã bán nhượng đứt cho Phạm Thị H một nữa trước đây. Cái kiềng nhà sẵn có trước đây về hướng Tây là của H về hướng Đông là của M1 (H được dùng luôn cái kiềng nhà đã có trên đất dừa). Các phần thực đã chia sẽ phân định rõ ràng cho mỗi đứa con thì bất cứ trai hay gái vẫn có quyền hưởng trong điều kiện vĩnh viễn truyền tử lưu tôn nhưng không được một đứa con nào tự ý sang nhượng gì cả khi mà chồng vợ tôi còn nhãn tiền mà nhất là ruộng đất, vườn tược. Riêng hai con trai là Phạm Ngọc T và Phạm Văn C cần lưu ý theo lời cha mẹ dặn sao đây:
* Phần T là con trưởng nam, tất cả gì đã chia giao cho con nhưng quyền cha mẹ vẫn còn ăn ở trong nhà, đất cát vườn tược cha mẹ vẫn còn lấy đó sản xuất làm ăn theo khả năng còn có của cha mẹ và con cũng vẫn sản xuất làm ăn trong đất cát chút ít theo khả năng của con để thêm sinh kế đến khi nào cha mẹ đều mãng phần hết là quyền sở hữu quản lý sử dụng của T và con lo bề nhang khói cho ông nội với cha mẹ theo khả năng của con.
* Phần Cao thì số cây gỗ, nhà cửa nèo, cát đá chè đã cho con thì nên tạo điều kiện để có khả năng thêm vào con xây cất lên cái nhà để mà ở trên nửa đất còn lại bên sở nhà của phần anh con mà hiện cha mẹ còn ăn ở để rồi sao này anh em gần gũi với nhau (Nhà T hướng Đ3, nhà Cao hướng Tây trên khoảng đất 300m vuông). Chồng vợ tôi đã già yếu nên đem tài sản như nhà cửa, đất cát, ruộng vườn, bò bê, vàng bạc phân chia cho con thì các đứa con đã thành niên có trách nhiệm làm nghĩa vụ thuế khoá nông nghiệp và lao động theo quy định chung của Nhà nước đối với phần mình hưởng.
Sau này nếu các con có ai tranh chấp gì là tự bội phản lại tình nghĩa gia đình, công ơn cha mẹ thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với luật pháp chung. Tờ di chúc này lập tại gia đình ngày 10 tháng 11 năm 1992 và lập thành ba bản để hai con trai và chồng vợ tôi cất giữ đối chấp về sau.
Ông Phạm Ngọc T xác định di sản của cha mẹ chết để lại gồm:
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 911,2m² tọa lạc tại thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Trên diện tích đất này gồm có:
- + Thửa đất diện tích 392,7m² trên đất có căn nhà cấp 4C của cha mẹ ông xây dựng vào năm 1975.
- + Thửa đất diện tích 337,8m² trên đất có nhà của ông Phạm Văn C.
- + Thửa đất diện tích 180,7m² trên đất có nhà của bà Phạm Thị M1.
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 1.630,6m² (trong đó có phần chia theo bình quân nhân nhân khẩu cha mẹ mỗi người 400m² x 2 = 800m²)
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 550,5m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 720,9m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 384,2m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 728,5m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 536,5m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 718,1m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 2.694,2m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 1.019,4m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 195m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 828,2m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 752,9m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 301,7m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 609m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 496m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 498,6m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 125,7m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 902,2m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 247,2m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 126,1m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 546,5m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 512,5m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 611,6m²
Tất cả diện tích đất tọa lạc tại Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Cùng một số tài sản khác như: 02 tủ thờ, 01 tủ đứng, 01 cái giường, 01 bộ ván, 01 bàn chữ U, 01 tủ nhỏ, 02 bộ chân đèn đồng.
Nay ông Phạm Ngọc T khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế theo di chúc ngày 10/11/1992 cho ông được hưởng các tài sản như sau:
- + Thửa đất diện tích 392,7m² trên đất có căn nhà cấp 4C của cha mẹ ông xây dựng vào năm 1975.
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 1.630,6m² (trong đó có phần chia theo bình quân nhân nhân khẩu cha mẹ mỗi người 400m² x 2 = 800m²)
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 550,5m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 720,9m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 384,2m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 728,5m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 536,5m²
- Diện tích đất đo đạc hiện trạng 718,1m²
- ½ diện tích đất đo đạc hiện trạng 2.694,2m²
- 02 tủ thờ, 01 tủ đứng, 01 cái giường, 01 bộ ván, 01 bàn chữ U, 01 tủ nhỏ, 02 bộ chân đèn đồng.
Bị đơn ông Phạm Văn C khai:
Về quan hệ gia đình như ông Phạm Ngọc T khai ông xác nhận đúng. Cha, mẹ ông chết không để lại di chúc. Ông xác định tài sản của cha mẹ để lại như ông Phạm Ngọc T trình bày, ông không công nhận di chúc ngày 10/11/1992 và đồng ý chia thừa kế theo pháp luật: Thửa đất có diện tích đất 392,7m² và toàn bộ tài sản có trên đất: Nhà cấp 4C, một số tài sản khác như: 02 tủ thờ, 01 tủ đứng, 01 cái giường, 01 bộ ván, 01 bàn chữ U có kính, 01 tủ đứng nhỏ, 01 ghế đứng thắp nhang Diện tích đất thổ cư 392,7m² (đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 060994 ngày 27/02/2015 cho hộ ông Phạm T2, bà Nguyễn Thị H1). Ngoài ra, còn có 01 giếng nước và hàng rào tất cả là của cha mẹ để lại chứ không phải của bà M1, ông đồng ý chia thừa kế các tài sản trên. Đối với nhà và đất có nhà để làm nhà tự thờ cúng ông bà, cha mẹ thì chia di sản theo pháp luật, ai được nhận thì phải hoàn tiền lại cho các thừa kế khác nếu có phần chênh lệch. Các tài sản di dời được như: Bàn, tủ, ván ... thì ông không tranh chấp giao cho ông T chia cho ai thì chia.
Đối với 08 thửa đất, tổng diện tích 7.963,5m² ông Phạm Ngọc T trình bày tranh chấp yêu cầu chia là không đúng vì đất này là của gia đình ông sử dụng từ năm 1991 đến nay. Đối với các thửa đất nông nghiệp, cụ thể:
- + Đối với thửa đất có diện tích 1.019,4m² trong đó có 400m² đầu khẩu của ông T, phần đất còn lại cha mẹ cho bà M.
- + Đối với các thửa đất có diện tích 334,2m²; 550,5m²; 728,5m²; 536,5m²; 720,9m², 718,1m² ông canh tác từ năm 1991 đến nay chưa cấp quyền sử dụng đất.
- + Đối với thửa đất có diện tích 2.694,2m² trong đó có 1.000m² cha mẹ ông có cho bà Phạm Thị Đ (đã chết) thì hiện nay là của các con bà Đ, phần diện tích còn lại ông đang canh tác.
Các thửa đất này là tài sản của ông chứ không phải của cha mẹ để lại, ông không đồng ý chia thừa kế.
Đối với các thửa đất khác chia theo bình quân nhân khẩu các anh, chị, em đã nhận: Bà H đang canh tác thửa đất có diện tích: 195,0m²; 828,2m²; 752,9m²; 301,7m²; 496m²; Bà L1 đang canh tác thửa đất có diện tích: 609,0m²; Bà X1 đang canh tác thửa đất có diện tích: 902,2m²; 546,5m2; 611,6m²; 126,1m²; 247,2m²; Bà Đ (đã chết) các con bà Đ đang canh tác thửa đất có diện tích: 498,6m² và 125,7m². Đối với thửa đất có 1.630m² đất này được Nhà nước chia theo bình quân nhân khẩu gồm 04 khẩu gồm: Cha mẹ, ông và bà M1. Đối với phần khẩu của bà M1 ông đã hoán đổi thửa 512,5m² và bà M1 hiện đang canh tác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị L trình bày:
Bà thống nhất ý kiến với chồng của bà là ông Phạm Văn C không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị M1, bà Phạm Thị L1 về quan hệ gia đình anh chị em ruột và di sản của cha mẹ các bà như ông Phạm Ngọc T khai là đúng, các bà không thừa nhận Tờ di chúc ngày 10/11/1992, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc T mà chia đều di sản của cha mẹ để lại cho các anh chị em. Đối với phần đất nông nghiệp tranh chấp thì đã có trước khi ông Cao S ra đời. Đối với phần đất thổ cư thì phần đất cha mẹ cho bà M1 có giấy tờ thì không yêu cầu chia, đối với phần đất thổ cư của ông C cha mẹ cho không có giấy tờ nên phải chia, ông C nhận đất vì trên đất có nhà ông C, ông C phải hoàn tiền trị giá đất cho các thừa kế khác. Còn phần đất thổ cư có nhà của cha mẹ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phạm T2, bà Nguyễn Thị H1, hiện đóng cửa để đó, ai đến thắp hương, cúng ông bà vẫn bình thường, là phải chia giao cho ông T và ông T hoàn tiền lại cho các thừa kế khác. Riêng đối với các tài sản di dời được như bàn, tủ, ván ...thì để cho ông T toàn quyền quyết định, chứ các bà không yêu cầu chia. Hiện nay bà Phạm Thị M đang sử dụng diện tích đất đo đạc hiện trạng 1.019,4m². Bà Phạm Thị X đang sử dụng diện tích đất đo đạc hiện trạng: 902,2m²; 546,5m²; 611,6m²; 126,1m²; 247,2m². Bà Phạm Thị H đang sử dụng diện tích đất đo đạc hiện trạng 195,0m²; 828,2m²; 752,9m²; 301,7m²; 496m². Bà Phạm Thị L1 đang sử dụng diện tích đất đo đạc hiện trạng 609,0m². Bà Phạm Thị M1 đang sử dụng diện tích đất đo đạc hiện trạng 512,5m².
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn L2 và chị Trần Thị Q
cùng sử dụng diện tích đất đo đạc hiện trạng 498,6m² và 125,7m² và yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật, không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu T1 trình bày:
Ông là chồng của bà Pham Thị H2 nhưng đã ly hôn theo quyết định số 47/2006/QÐST-HNGĐ ngày 14/11/2006 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Diện tích đất đo đạc hiện trạng 2.173,7m² tọa lạc tại thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận là của cha mẹ vợ ông khi còn sống cho bà Phạm Thị M1 sử dụng. Diện tích đất này thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 986335 ngày 18/9/2017 đứng tên Nguyễn Hữu T1 và Phạm Thị H với diện tích 2.173,7m² là của cha mẹ vợ ông. Năm 1981 cha mẹ vợ chuyển nhượng lại ½ diện tích cho vợ chồng ông. Do đó trong diện tích đất có 454m² đã được cấp cho hộ ông. Ông xác định không liên quan đến tranh chấp thừa kế này đề nghị Tòa án không triệu tập ông nữa.
Người làm chứng ông Đào Văn T4 trình bày:
Ông gọi cụ ông Phạm T2 và cụ bà Nguyễn Thị H1 là anh chị họ, chữ ký người làm chứng trong Tờ di chúc ngày 10/11/1992 là của ông. Do cụ ông Phạm T2 và cụ bà Nguyễn Thị H1 không biết chữ nên mới nhờ ông Võ H3 viết giúp di chúc ngày 10/11/1992 rồi kêu ông và ông Trần Đ4 ký làm chứng, nay ông Võ H3 và ông Trần Đ4 đã chết, ông cam đoan lời khai này đúng nếu sai chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. Hiện nay ông tuổi già sức yếu không đi đến Tòa án tham gia tố tụng được đề nghị Tòa án không triệu tập ông nữa.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 14 Pháp lệnh thừa kế năm 1990; các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 620, 623, 649, 650, 651, Khoản 3 Điều 652, Điều 660, Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 4, khoản 7 Điều 166, Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai, Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Không công nhận Tờ di chúc ngày 10/11/1992 của cụ ông Phạm T2 và cụ bà Nguyễn Thị H1 là hợp pháp. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc T về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ ông Phạm T2 và cụ bà Nguyễn Thị H1 theo pháp luật.
* Xác định:
- - Cụ ông Phạm T2, chết ngày 07/3/2014 theo Trích lục khai tử (bản sao) số 358/TLKT-BS, ngày 30/5/2016 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- - Cụ bà Nguyễn Thị H1, chết ngày 08/02/2015 theo Trích lục khai tử (bản sao) số 359/TLKT-BS, ngày 30/5/2016 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- * Hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của cụ Phạm T2 và cụ Nguyễn Thị H1 gồm 08 người con là: Bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Đ (đã chết vào năm 2000), bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị X, ông Phạm Ngọc T, ông Phạm Văn C, bà Phạm Thị L1 và bà Phạm Thị M1. Người thừa kế thế vị của bà Đ là 02 con: Trần Văn L2 và Trần Thị Q.
- * Di sản thừa kế của cụ Phạm T2 và cụ Nguyễn Thị H1 chết để lại gồm:
- - Diện tích đất thổ cư 392,7m² trị giá 235.620.000 đồng;
- - 01 ngôi nhà cấp 4C diện tích 48,96m² trị giá 41.420.160 đồng;
- - 02 tủ thờ gỗ gõ giá 6.000.000 đồng;
- - 01 tủ đứng gỗ gõ giá 2.000.000 đồng;
- - 01 bộ ván ngựa 04 tấm gỗ bông lau giá 1.800.000 đồng;
- - 01 giường gỗ gõ giá 750.000 đồng;
- - 01 giường gỗ cốc hành giá 500.000 đồng;
- - 01 bàn chữ U gỗ gõ giá 1.000.000 đồng;
- - 02 bộ chân đèn đồng giá 2.000.000 đồng;
- - 01 tủ nhỏ gỗ gõ giá 1.500.000 đồng;
- - 01 bộ ván ngựa 05 tấm gỗ gáo giá 500.000 đồng;
- - 45 cây dừa theo bờ ranh khu vực đất trị giá 9.000.000 đồng.
- - Đất nông nghiệp là 23 thửa với tổng diện tích đo đạc hiện trạng: 15.736,1m² giá 629.444.000 đồng.
Tổng trị giá di sản thừa kế: 931.534.000 đồng chia cho 8 người con mỗi người được hưởng 116.441.750 đồng. Anh Trần Văn L2 và chị Trần Thị Q là thừa kế thế vị của bà Phạm Thị Đinh M3 người được hưởng 58.220.875 đồng.
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho ông Phạm Ngọc T:
- - Diện tích đất thổ cư 392,7m² trị giá 235.620.000 đồng;
- - 01 ngôi nhà cấp 4C diện tích 48,96m² trị giá 41.420.160 đồng;
- - 02 tủ thờ gỗ gõ giá 6.000.000 đồng;
- - 01 tủ đứng gỗ gõ giá 2.000.000 đồng;
- - 01 bộ ván ngựa 04 tấm gỗ bông lau giá 1.800.000 đồng;
- - 01 giường gỗ gõ giá 750.000 đồng;
- - 01 giường gỗ cốc hành giá 500.000 đồng;
- - 01 bàn chữ U gỗ gõ giá 1.000.000 đồng;
- - 02 bộ chân đèn đồng giá 2.000.000 đồng;
- - 01 tủ nhỏ gỗ gõ giá 1.500.000 đồng;
- - 01 bộ ván ngựa 05 tấm gỗ gáo giá 500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bằng hiện vật ông Phạm Ngọc T được chia là: 293.090.000đồng. Ông Phạm Ngọc T có nghĩa vụ hoàn trả kỳ phần thừa kế tài sản bằng tiền cho các thừa kế khác số tiền: 176.648.250 đồng. Cụ thể là:
- + Bà Phạm Thị M số tiền: 64.183.500 đồng;
- + Bà Phạm Thị L1 số tiền: 92.081.750 đồng;
- + Bà Phạm Thị M1 số tiền: 20.383.000 đồng;
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho ông Phạm Văn C: Ông C tiếp tục sử dụng đất: Diện tích đất đo đạc hiện trạng 1.630,6m²; 384,2m²; 728,5m²; 550,5m²; 536,5m²; 718,1m²; 720,9m²; 2.694,2m². Tổng diện tích 7.963,5m² trị giá 318.540.000đồng. 45 cây dừa theo bờ ranh khu vực đất trị giá 9.000.000đồng. Tổng giá trị tài sản bằng hiện vật ông Phạm Văn C được chia là: 327.540.000đồng. Ông Phạm Văn C có nghĩa vụ hoàn trả kỳ phần thừa kế tài sản bằng tiền cho các thừa kế khác số tiền: 211.098.250 đồng. Cụ thể là:
- + Anh Trần Văn L2 số tiền: 45.734.875 đồng;
- + Chị Trần Thị Q số tiền: 45.734.875 đồng;
- + Bà Phạm Thị X số tiền: 19.097.750 đồng;
- + Bà Phạm Thị M1 số tiền: 75.558.750 đồng;
- +Bà Phạm Thị M 11.482.250 đồng;
- +Bà Phạm Thị H 13.489.750 đồng.
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho bà Phạm Thị H: Diện tích đất đo đạc hiện trạng 195,0m²; 828,2m²; 752,9m²; 301,7m²; 496m². Tổng diện tích 2.573,8m² trị giá 102.952.000 đồng, số tiền còn lại 13.489.750 đồng do ông Phạm Văn C hoàn trả.
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho bà Phạm Thị M1 diện tích đất đo đạc hiện trạng 512,5m² trị giá 20.500.000 đồng. Số tiền còn lại bà Phạm Thị M1 được nhận kỳ phần thừa kế do ông Phạm Văn C hoàn trả là 75.558.750 đồng và ông Phạm Ngọc T hoàn trả là 20.383.000 đồng.
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho bà Phạm Thị L1 diện tích đất đo đạc hiện trạng 609,0m² trị giá 24.360.000 đồng. Số tiền còn lại bà Phạm Thị L1 được nhận kỷ phần thừa kế do ông Phạm Ngọc T hoàn trả là 92.081.750 đồng.
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho bà Phạm Thị X diện tích đất đo đạc hiện trạng 902,2m²; 546,5m²; 611,6m²; 126,1m²; 247,2m²; Tổng diện tích 2.433,6m² trị giá 97.344.000 đồng. Số tiền còn lại bà Phạm Thị X được nhận kỷ phần thừa kế do ông Phạm Văn C hoàn trả là 19.097.750 đồng.
- Chia thừa kế bằng tiền cho anh Trần Văn L2 và chị Trần Thị Q cả hai cùng sử dụng diện tích 498,6m² và 125,7m², tổng cộng 624,3m² trị giá 24.972.000 đồng, số tiền còn lại 91.469.750 đồng do ông Phạm Văn C hoàn trả cho anh Trần Văn L2 45.734.875 đồng và chị Trần Thị Q 45.734.875 đồng.
- Chia thừa kế bằng tiền cho bà Phạm Thị M diện tích đất đo đạc hiện trạng 1.019,4m² trị giá 40.776.000 đồng, số tiền còn lại 75.665.750 đồng do ông Phạm Ngọc T hoàn trả 64.183.500 đồng và ông Phạm Văn C hoàn trả 11.482.250 đồng.
Các đương sự: Ông Phạm Ngọc T, ông Phạm Văn C, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1, bà Phạm Thị M, anh Trần Văn L2 và chị Trần Thị Q có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Có 02 Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 11/10/2016 kèm theo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31/01/2024, nguyên đơn ông Phạm Ngọc T kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm chia di sản theo di chúc của cha mẹ ông. Ngày 08/02/2024 bị đơn ông Phạm Văn C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1 kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia cho bà Phạm Thị M1 phần đất trống 192,7m² nằm trong diện tích 392,7m² được Tòa sơ thẩm chia cho ông T, còn 200m² đất bao gồm căn nhà tự thì để cho ông Phạm Ngọc T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện và xác định rút đơn kháng cáo như nội dung đơn đề ngày 21/3/2025 đã nộp cho Toà án vào ngày 24/3/2025.
- Bị đơn ông Phạm Văn C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1 đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần tài sản do ông Phạm T2 và bà Nguyễn Thị H1 để lại và thống nhất chia cho bà Phạm Thị M1 phần đất trống 192,7m², còn 200m² đất có bao gồm căn nhà tự thì để cho ông Phạm Ngọc T. Ngoài ra, bà X, bà M1 và bà L1 yêu cầu xem xét về phần án phí, chi phí đo đạc, xem xét thẩm định trước đây các bà đã đưa cho ông T mỗi người là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
1. Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
2. Về nội dung:
- Điểm b khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T.
- Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn C; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1 và giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Tại phiên tòa, vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng người này đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người này là phù hợp.
[2] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và pháp luật được áp dụng giải quyết vụ án: Xét nội dung đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về áp dụng pháp luật: Tờ di chúc được lập ngày 10/11/1992 nên áp dụng Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và tranh chấp về thừa kế xảy ra vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 đang có hiệu lực nên áp dụng luật này để giải quyết.
[4] Quá trình Toà án hoãn phiên toà có nhận được đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T đề ngày 21/3/2025 và tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, ông T xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu rút toàn bộ nội dung kháng cáo, do đó căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông T.
[5] Về Tờ di chúc ngày 10/11/1992 của cụ ông Phạm T2 và cụ bà Nguyễn Thị H1:
Qua lời khai của các đương sự và người làm chứng là ông Đào Văn T4 thì ông Đào Văn T4 xác định: Vào thời điểm lập di chúc, cụ ông Phạm T2 và cụ bà Nguyễn Thị H1 không biết chữ nên đã nhờ ông Võ H3 (đã chết) viết giúp, có sự chứng kiến của các con và 02 người làm chứng cùng ký vào.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 quy định “Người lập di chúc có thể tự viết hoặc nhờ người khác viết bản di chúc, nhưng người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ trước mặt người có trách nhiệm chứng thực của cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn”. Khoản 3 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực".
Trong vụ án này, về hình thức di chúc trên không đảm bảo quy định vì không được công chứng, chứng thực hợp lệ nên không được công nhận. Do đó, di sản của cụ ông Phạm T2 và cụ bà Nguyễn Thị H1 được giải quyết chia theo pháp luật.
[6] Tuy nhiên, có thể thấy rằng về nội dung Tờ di chúc ngày 10/11/1992 do ý nguyện của cụ ông Phạm T2 và cụ bà Nguyễn Thị H1 được lập rất chi tiết, cụ thể: ông bà đã nhờ người viết hộ, nhờ 02 người bên ngoài làm chứng và ký xác nhận vào di chúc nhưng có lẽ vì thiếu hiểu biết pháp luật nên không công chứng, chứng thực để đảm bảo theo quy định pháp luật hiện hành. Việc phân chia các tài sản tại di chúc phù hợp với quá trình quản lý, sử dụng, canh tác của các con ông bà vào thời điểm bấy giờ. Di chúc được lập như tâm nguyện ông bà để lại, ông bà đã nhìn nhận, xem xét công sức, công việc, hoàn cảnh của các con để phân chia ai được hưởng gì, hưởng như thế nào, đảm nhận việc nhận tài sản ra sao khi ông bà chết đi. Vậy nên, Di chúc không được công nhận nhưng có thể xem đây là một chứng cứ quan trọng khi phân chia tài sản theo quy định pháp luật để vừa đảm bảo quy định pháp luật, phù hợp với tình hình thực tế quản lý, sử dụng cũng như là cách tôn trọng ý chí của cụ ông Phạm T2 và cụ bà Nguyễn Thị H1.
[7] Quá trình giải quyết vụ án ở sơ thẩm, các đương sự đều thống nhất về các di sản thừa kế mà cha mẹ để lại cũng như hàng thừa kế. Bị đơn ông C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà M, bà X, bà L1, bà M1 chỉ kháng cáo đối với nội dung đề nghị chia thêm cho bà Phạm Thị M1 phần đất trống 192,7m², còn 200m² đất có bao gồm căn nhà tự thì để cho ông Phạm Ngọc T. Ngoài ra, bà X, bà M1 và bà L1 yêu cầu ông T phải trả lại án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc đất mỗi bà 6.000.000 đồng mà các bà đã đưa cho ông T vào năm 2014, nên Toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại những nội dung này.
[7.1] Về diện tích phần đất trống 192,7m², còn 200m² đất có bao gồm căn nhà tự:
Đây là diện tích đất thổ cư 392,7m², thuộc thửa đất số 101 trị giá 235.620.000 đồng (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 060994 ngày 27/02/2015 do UBND huyện H cấp cho hộ ông Phạm T2, bà Nguyễn Thị H1).
Các bên xác định hiện trạng trên đất có căn nhà tự và một phần đất trống. Toà án sơ thẩm đã chia phần diện tích đất này cho nguyên đơn ông T cùng các tài sản khác và ông T có nghĩa vụ hoàn trả lại cho các đồng thừa kế khác khoản tiền chênh lệch là phù hợp. Cách chia này cũng phù hợp với ý chí như nội dung Di chúc của cụ T2 và cụ H1 mong muốn ông Phạm Ngọc T là trưởng nam lo nhang khói, thờ cúng cho ông bà, cha mẹ.
Bà Phạm Thị M1 cũng đã được chia phần diện tích đất theo đo đạc hiện trạng là 512,5m² và được nhận số tiền chênh lệch từ các đồng thừa kế khác là đã đảm bảo quyền lợi cho bà M1. Việc bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu chia cho bà M1 diện tích 192,7m² nằm trong diện tích đất 392,7m² là không có cơ sở để xem xét, chấp nhận.
[7.2] Việc bà X, bà M1 và bà L1 yêu cầu ông T phải trả lại án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc đất mỗi bà 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), thấy rằng:
Theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
“Khi các bên đương sự không xác định được phần tài sản của mình hoặc mỗi người xác định phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản của mình trong khối di sản thừa kế là khác nhau và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó thì mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia, được hưởng trong khối tài sản chung hoặc trong khối di sản thừa kế.”
Theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
“Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ được xác định như sau:
2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia.”
Và khoản 2 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
“Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản, thẩm định giá được xác định như sau:
2. Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá tài sản tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia."
Trong vụ án này, các đồng thừa kế khi được phân chia di sản thừa kế ngoài việc chịu án phí đối với phần tài sản được nhận thì còn phải chịu chi phí tố tụng liên quan đến phần xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản. Ông Phạm Ngọc T là nguyên đơn nên quá trình tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì ông T là người nộp tạm ứng chi phí này theo quy định tại Điều 156 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên các đồng thừa kế còn lại có nghĩa vụ phải hoàn trả lại số tiền tương ứng đối với phần tài sản được nhận cho ông T là đúng quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, những người này cũng không cung cấp được chứng cứ gì thể hiện là trước đây có đưa tiền cho ông Phạm Ngọc T.
[8] Từ những phân tích trên thấy rằng Bản án sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, tài liệu do các bên đương sự xuất trình để từ đó chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T là đúng pháp luật.
[9] Bị đơn ông Phạm Văn C; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận, như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1, khoản 4 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, do bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị X là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà X, bà M theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn C; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Áp dụng:
Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 14 Pháp lệnh thừa kế năm 1990; các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 620, 623, 649, 650, 651, Khoản 3 Điều 652, Điều 660, Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 4, khoản 7 Điều 166, Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai, Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1, khoản 4 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Không công nhận Tờ di chúc ngày 10/11/1992 của cụ ông Phạm T2 và cụ bà Nguyễn Thị H1 là hợp pháp. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc T về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ ông Phạm T2 và cụ bà Nguyễn Thị H1 theo pháp luật.
* Xác định:
- - Cụ ông Phạm T2, chết ngày 07/3/2014 theo Trích lục khai từ (bản sao) số 358/TLKT-BS, ngày 30/5/2016 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- - Cụ bà Nguyễn Thị H1, chết ngày 08/02/2015 theo Trích lục khai tử (bản sao) số 359/TLKT-BS, ngày 30/5/2016 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- * Hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của cụ Phạm T2 và cụ Nguyễn Thị H1 gồm 08 người con là: Bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị Đ (đã chết vào năm 2000), bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị X, ông Phạm Ngọc T, ông Phạm Văn C, bà Phạm Thị L1 và bà Phạm Thị M1. Người thừa kế thế vị của bà Đ là 02 con: Trần Văn L2 và Trần Thị Q.
- * Di sản thừa kế của cụ Phạm T2 và cụ Nguyễn Thị H1 chết để lại gồm:
- - Diện tích đất thổ cư 392,7m² trị giá 235.620.000 đồng;
- - 01 ngôi nhà cấp 4C diện tích 48,96m² trị giá 41.420.160 đồng;
- - 02 tủ thờ gỗ gõ giá 6.000.000 đồng;
- - 01 tủ đứng gỗ gõ giá 2.000.000 đồng;
- - 01 bộ ván ngựa 04 tấm gỗ bông lau giá 1.800.000 đồng;
- - 01 giường gỗ gõ giá 750.000 đồng;
- - 01 giường gỗ cốc hành giá 500.000 đồng;
- - 01 bàn chữ U gỗ gõ giá 1.000.000 đồng;
- - 02 bộ chân đèn đồng giá 2.000.000 đồng;
- - 01 tủ nhỏ gỗ gõ giá 1.500.000 đồng;
- - 01 bộ ván ngựa 05 tấm gỗ gáo giá 500.000 đồng;
- - 45 cây dừa theo bờ ranh khu vực đất trị giá 9.000.000 đồng.
- - Đất nông nghiệp là 23 thửa với tổng diện tích đo đạc hiện trạng: 15.736,1m² giá 629.444.000 đồng.
Tổng trị giá di sản thừa kế: 931.534.000 đồng chia cho 8 người con mỗi người được hưởng 116.441.750 đồng. Anh Trần Văn L2 và chị Trần Thị Q là thừa kế thế vị của bà Phạm Thị Đinh M3 người được hưởng 58.220.875 đồng.
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho ông Phạm Ngọc T:
- - Diện tích đất thổ cư 392,7m² trị giá 235.620.000 đồng;
- - 01 ngôi nhà cấp 4C diện tích 48,96m² trị giá 41.420.160 đồng;
- - 02 tủ thờ gỗ gõ giá 6.000.000 đồng;
- - 01 tủ đứng gỗ gõ giá 2.000.000 đồng;
- - 01 bộ ván ngựa 04 tấm gỗ bông lau giá 1.800.000 đồng;
- - 01 giường gỗ gõ giá 750.000 đồng;
- - 01 giường gỗ cốc hành giá 500.000 đồng;
- - 01 bàn chữ U gỗ gõ giá 1.000.000 đồng;
- - 02 bộ chân đèn đồng giá 2.000.000 đồng;
- - 01 tủ nhỏ gỗ gõ giá 1.500.000 đồng;
- - 01 bộ ván ngựa 05 tấm gỗ gáo giá 500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bằng hiện vật ông Phạm Ngọc T được chia là: 293.090.000đồng. Ông Phạm Ngọc T có nghĩa vụ hoàn trả kỳ phần thừa kế tài sản bằng tiền cho các thừa kế khác số tiền: 176.648.250 đồng. Cụ thể là:
- + Bà Phạm Thị M số tiền: 64.183.500 đồng;
- + Bà Phạm Thị L1 số tiền: 92.081.750 đồng;
- + Bà Phạm Thị M1 số tiền: 20.383.000 đồng;
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho ông Phạm Văn C: Ông C tiếp tục sử dụng đất: Diện tích đất đo đạc hiện trạng 1.630,6m²; 384,2m²; 728,5m²; 550,5m²; 536,5m²; 718,1m²; 720,9m²; 2.694,2m². Tổng diện tích 7.963,5m² trị giá 318.540.000 đồng. 45 cây dừa theo bờ ranh khu vực đất trị giá 9.000.000đồng. Tổng giá trị tài sản bằng hiện vật ông Phạm Văn C được chia là: 327.540.000đồng. Ông Phạm Văn C có nghĩa vụ hoàn trả kỳ phần thừa kế tài sản bằng tiền cho các thừa kế khác số tiền: 211.098.250 đồng. Cụ thể là:
- + Anh Trần Văn L2 số tiền: 45.734.875 đồng;
- + Chị Trần Thị Q số tiền: 45.734.875 đồng;
- + Bà Phạm Thị X số tiền: 19.097.750 đồng;
- + Bà Phạm Thị M1 số tiền: 75.558.750 đồng;
- +Bà Phạm Thị M 11.482.250 đồng;
- +Bà Phạm Thị H 13.489.750 đồng.
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho bà Phạm Thị H: Diện tích đất đo đạc hiện trạng 195,0m²; 828,2m²; 752,9m²; 301,7m²; 496m². Tổng diện tích 2.573,8m² trị giá 102.952.000 đồng, số tiền còn lại 13.489.750 đồng do ông Phạm Văn C hoàn trả.
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho bà Phạm Thị M1 diện tích đất đo đạc hiện trạng 512,5m² trị giá 20.500.000 đồng. Số tiền còn lại bà Phạm Thị M1 được nhận kỳ phần thừa kế do ông Phạm Văn C hoàn trả là 75.558.750 đồng và ông Phạm Ngọc T hoàn trả là 20.383.000 đồng.
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho bà Phạm Thị L1 diện tích đất đo đạc hiện trạng 609,0m² trị giá 24.360.000 đồng. Số tiền còn lại bà Phạm Thị L1 được nhận kỷ phần thừa kế do ông Phạm Ngọc T hoàn trả là 92.081.750 đồng.
- Chia thừa kế tài sản bằng hiện vật cho bà Phạm Thị X diện tích đất đo đạc hiện trạng 902,2m²; 546,5m²; 611,6m²; 126,1m²; 247,2m²; Tổng diện tích 2.433,6m² trị giá 97.344.000 đồng. Số tiền còn lại bà Phạm Thị X được nhận kỷ phần thừa kế do ông Phạm Văn C hoàn trả là 19.097.750 đồng.
- Chia thừa kế bằng tiền cho anh Trần Văn L2 và chị Trần Thị Q cả hai cùng sử dụng diện tích 498,6m² và 125,7m², tổng cộng 624,3m² trị giá 24.972.000 đồng, số tiền còn lại 91.469.750 đồng do ông Phạm Văn C hoàn trả cho anh Trần Văn L2 45.734.875 đồng và chị Trần Thị Q 45.734.875 đồng.
- Chia thừa kế bằng tiền cho bà Phạm Thị M diện tích đất đo đạc hiện trạng 1.019,4m² trị giá 40.776.000 đồng, số tiền còn lại 75.665.750 đồng do ông Phạm Ngọc T hoàn trả 64.183.500 đồng và ông Phạm Văn C hoàn trả 11.482.250 đồng.
Các đương sự: Ông Phạm Ngọc T, ông Phạm Văn C, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1, bà Phạm Thị M, anh Trần Văn L2 và chị Trần Thị Q có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Có 02 Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 11/10/2016 kèm theo.
9. Về án phí và chi phí tố tụng:
9.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Phạm Văn C, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1 mỗi người phải chịu 5.822.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Anh Trần Văn L2 và chị Trần Thị Q mỗi người phải chịu 2.911.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông Phạm Ngọc T phải chịu 5.822.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ 607.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008266 ngày 13/7/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, còn lại 5.215.000 đồng ông Phạm Ngọc T phải tiếp tục nộp.
- - Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Phạm Thị M, Phạm Thị H, Phạm Thị X.
9.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- - Buộc ông Phạm Ngọc T, ông Phạm Văn C, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng khấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm các ông bà đã nộp theo các biên lai thu số: 0013022 ngày 31/01/2024; 0013057, 0013058, 0012059 cùng ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc. Ông T, ông C, bà L1, bà M1 đã nộp đủ.
- - Bà Phạm Thị M, Phạm Thị X không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
9.3. Về chi phí tố tụng:
- - Ông Phạm Ngọc T phải chịu 3.381.000 đồng lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất. Ông Phạm Ngọc T đã nộp 27.046.000 đồng tạm ứng lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, còn lại số tiền 23.665.000 đồng do ông Phạm Văn C, bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1, anh Trần Văn L2 và chị Trần Thị Q hoàn trả lại cho ông Phạm Ngọc T.
- - Ông Phạm Văn C, bà Phạm Thị M, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị M1 mỗi người phải chịu 3.381.000 đồng lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất để hoàn trả cho ông Phạm Ngọc T.
- - Anh Trần Văn L2 và chị Trần Thị Q mỗi người phải chịu 1.690.500 đồng lệ phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc đất để hoàn trả cho ông Phạm Ngọc T.
10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/4/2025).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tuấn |
Bản án số 64/2025/DS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 64/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
