|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 64/2025/HSST Ngày: 24/03/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai – Giáo viên
Ông Tạ Đức Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Duy – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Long Biên
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 270/2024/TLST-HS ngày 25/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST - HS ngày 08/03/2025 đối với bị cáo:
LÊ TÚ T, sinh ngày 23/06/2007; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: Thôn E, xã P, Thủy N, Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Họ tên bố nuôi: Lê Văn L, sinh năm 1973; Họ tên mẹ: Lê Thị N1, sinh năm 1988. Theo danh chỉ bản số 297, lập ngày 22/05/2024 của Công an quận L, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Ông Lê Văn L, sinh năm 1973; HKTT: Thôn E, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội. (bố nuôi của bị cáo). (Ông L vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn L: Ông Nguyễn Việt A, sinh năm 1978; HKTT: Thông Đặng, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lưu Thùy L1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố H, chi nhánh S. (Có mặt)
Bị hại: Ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1969; HKTT: Tổ B, phường B, quận L, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: P, tòa B chung cư R, phường P, quận L, thành phố Hà Nội (Xin vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Tất T1, sinh năm 1980; HKTT và chỗ ở: P, tòa A chung cư R, phường P, quận L, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt).
- Ông Huỳnh Ngọc V, sinh năm 1966; HKTT: Số B, tổ B, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số H đường T, thị trấn T, huyện G, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 16 phút ngày 21/5/2024, Lê Tú T đi bộ đến tầng hầm B1, tòa nhà A, chung cư R, phường P, L, Hà Nội để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tại hầm chung cư, T thấy 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu MINGU, màu đen trắng không khoá và không có ai trông giữ. Vì vậy, T đã dùng hai tay dắt chiếc xe đạp trên ra khỏi chỗ để xe rồi ngồi lên xe điều khiển đi. Tiếp đó đi lên dốc hầm để xe thì T xuống xe dắt xe, dắt xe đi được 1 đoạn ở sảnh chung cư chỗ lối đi giữa hai tòa chung cư A và A2 để mang xe ra ngoài tránh bị phát hiện thì bị ông Nguyễn Đình Đ (sinh năm: 1969, HKTT: Tổ B, phường B, L, Hà Nội) là bảo vệ của tòa nhà giữ lại do ông Đ nghi vấn T trộm cắp chiếc xe trên. Tiếp đó ông Đ đưa T vào phòng Camera an ninh của tòa nhà để xem lại Camera an ninh thì phát hiện thấy T vừa trộm cắp 01 chiếc xe đạp trên ở tầng hầm B1, tòa nhà A, chung cư R, phường P, L, Hà Nội. Lúc này T thừa nhận về việc vừa lấy trộm chiếc xe đạp trên rồi ông Đ gọi điện báo sự việc cho Công an phường P. Tổ công tác của Công an phường P xuống hiện trường lập biên bản và mời những người có liên quan và đưa tang vật về trụ sở xác minh làm rõ.
Sau khi đưa T về trụ sở Công an phường P thì vào khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày Công an phường tiếp nhận đơn trình báo của anh Nguyễn Văn Q (sinh năm: 1982, Chỗ ở: C, tòa A, chung cư R, phường P, L, Hà Nội) trình báo bị mất chiếc xe đạp trên.
Tiếp đó, vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 21/5/2024 Công an phường P tiếp nhận đơn trình báo của anh Nguyễn Tất T1 (sinh năm: 1980, HKTT: căn 1513, tòa A chung cư R, phường P, L, Hà Nội) trình báo bị mất chiếc xe đạp nhãn hiệu RINCON màu xám đen vào ngày 16/3/2024 tại tầng hầm B1, tòa nhà A, chung cư R, phường P, L, Hà Nội.
Tại cơ quan Công an Lê Tú T đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản chiếc xe đạp của anh Nguyễn Tất T1 nêu trên như sau:
Vào khoảng 18 giờ 47 phút ngày 16/3/2024, Lê Tú T đi bộ đến tầng hầm B1, tòa nhà A, chung cư R, phường P, L, Hà Nội để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến đây T thấy có 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu RINCON màu xám đen của anh Nguyễn Tất T1 không khóa và không có ai trông giữ. Thấy vậy T liền dắt chiếc xe đạp ra khỏi chỗ để xe rồi lên xe điều khiển xe đi, khi đi lên dốc hầm để xe thì T xuống dắt xe đi qua chỗ đường đi giữa hai tòa chung cư A và A2 để tránh bị phát hiện. Sau khi lấy trộm được chiếc xe đạp, đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 17/3/2024 T mang chiếc xe đạp đến cửa hàng mua bán ký gửi xe địa chỉ số H đường T, TT T, G, Hà Nội bán cho ông Huỳnh Ngọc V (sinh năm: 1966, HKTT: Số B, tổ B, phường V, H, Hà Nội) với giá 900.000 đồng. T đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Tại cơ quan điều tra, ông Huỳnh Ngọc V khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên, ông V khai không biết chiếc xe đạp T bán cho ông là do T trộm cắp mà có, khi bán thì T nói chiếc xe là của T không sử dụng nữa nên bán. Sau khi mua chiếc xe trên, ông V sử dụng xe để tập luyện thể thao. Khi được cơ quan Công an triệu tập thông báo chiếc xe trên là tài sản T trộm cắp ông V đã giao nộp lại chiếc xe đạp cho Cơ quan điều tra.
Tang vật tạm giữ:
- - 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu MINGU màu trắng đen.
- - 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu RINCON màu xám đen.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 85/KL-HDĐGTS ngày 22/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận:
- - 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu MINGU màu trắng đen tại thời điểm bị xâm hại trị giá: 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng).
- - 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu RINCON màu xám đen tại thời điểm bị xâm hại trị giá: 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra đấu tranh Lê Tú T còn khai nhận: Vào các ngày 15,17/3/2024 và ngày 14/5/2024 bằng thủ đoạn tương tự trên Tài còn thực hiện hành vi trộm cắp xe đạp tại tầng hầm B1 của toà A1 của Chung cư R, P, L, Hà Nội. Cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ 26 phút ngày 15/3/2024, T trộm cắp được 01 chiếc xe đạp kiểu xe địa hình, màu đen trắng của chị Nguyễn Thị Thu H (sinh năm: 1981, Chỗ ở: C, tòa A, chung cư R, phường P, L, Hà Nội). Sau đó sáng ngày 16/3/2024 T đã bán chiếc xe cho bà Đỗ Thị B (sinh năm: 1967, HKTT: Xã X, X, Nam Định) là chủ cửa hàng thu mua sắt vụ ở địa chỉ: tổ B, phường L, L, Hà Nội với giá 100.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 19 giờ 38 phút ngày 17/3/2024 T trộm cắp được 01 chiếc xe đạp kiểu xe địa hình màu đen của chị Phạm Thị H1 (sinh năm: 1976, Chỗ ở: C, tòa A, chung cư R, phường P, L, Hà Nội). Đến sáng ngày 18/3/2024 T tiếp tục mang chiếc xe đến bán cho bà Đỗ Thị B là chủ cửa hàng thu mua sắt vụ ở địa chỉ: tổ B, phường L, L, Hà Nội với giá 200.000 đồng.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra bà Đỗ Thị B khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. Bà B khai không biết cả hai chiếc xe đạp mà T bán là do T trộm cắp mà có, khi bán xe T nói là xe của T không sử dụng nữa nên bán.
Chiếc xe đạp mà bà B mua của T vào ngày 15/3/2024 và 17/3/2024 với giá sắt vụn do hai chiếc xe đều đã cũ. Đến khoảng ngày 20/3/2024 bà B đã bán hai chiếc xe đạp trên cho người thu mua sắt vụn không quen biết theo giá sắt vụn cùng với các loại sắt khác nên B không nhớ là bán được bao nhiêu tiền, B chỉ nhớ là bán hai chiếc xe lãi được 50.000 đồng. Bà B đã giao nộp số tiền 50.000 đồng cho cơ quan điều tra.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 11 giờ 12 phút ngày 14/5/2024 T trộm cắp được 01 chiếc xe đạp kiểu xe địa hình màu trắng đen của chị Nguyễn Thị Thu H2 (sinh năm: 1981, Chỗ ở: C, tòa A, chung cư R, phường P, L, Hà Nội). Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày T mang chiếc xe đến cửa hàng mua bán sửa chữa xe đạp ở địa chỉ 104, đường D, xã P, G, Hà Nội bán cho ông Hoàng Như T2 (sinh năm: 1948, HKTT: Xã P, G, Hà Nội) là chủ cửa hàng với giá 1.165.000 đồng.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, ông Hoàng Như T2 khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. Ông T2 không biết chiếc xe đạp mà T bán là do T trộm cắp mà có, khi bán xe T nói là xe của T không sử dụng nữa nên bán. Vào khoảng ngày 16/5/2024 ông T2 đã bán chiếc xe đạp cho một người không rõ nhân thân lai lịch
với giá 1.265.000 đồng. Ông T2 đã giao nộp số tiền 100.000 đồng là tiền lãi bán xe cho cơ quan điều tra.
Hiện 03 chiếc xe đạp Tài trộm của chị Nguyễn Thị Thu H, Phạm Thị H1, Nguyễn Thị Thu H2 không thu giữ được. Quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Thu H, chị Phạm Thị H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 không cung cấp được đặc điểm, thông số kỹ thuật, giấy tờ mua bán các chiếc xe đạp trên. Công văn số 09/CV-ĐGTSTT của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận do thiếu tài liệu gồm: Hợp đồng mua bán, hóa đơn mua bán, tài liệu thể hiện đặc điểm kỹ thuật và tài sản chưa được thu hồi, do vậy Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận L chưa có cơ sở định giá.
Tiến hành dẫn giải Lê Tú T xác định được các vị trí T đã trộm cắp tài sản trên và nơi bán tài sản trộm cắp. Rà soát camera thu được các đoạn video ghi lại hình ảnh T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 15,16,17/3/2024 và 14,21/5/2024 tại hầm B, tòa nhà A, chung cư R, phường P, L, Hà Nội (chuyển hóa thành bản ảnh lưu hồ sơ vụ án).
Đối với vụ trộm cắp xảy ra ngày 21/5/2024: Lê Tú T có hành vi trộm cắp tài sản 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu MINGU màu trắng đen cũ đã qua sử dụng của anh Nguyễn Văn Q tại phường P, L, Hà Nội có trị giá 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng). Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Tú T về hành vi Trộm cắp tài sản theo điểm a, khoản 1, Điều 15 nghị 144/2021/NĐ-CP mức phạt 1.250.000 đồng (do T chưa đủ 18 tuổi).
Đối với hành vi trộm cắp xe đạp của Lê Tú T vào các ngày 15/3/2024, 17/3/2024 và ngày 14/5/2024 do không định giá được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu để tiếp tục thu thập hóa đơn chứng từ trưng cầu định giá tài sản, khi nào đầy đủ sẽ xử lý sau.
Đối với Huỳnh Ngọc V, Hoàng Như T2, Đỗ Thị B, quá trình mua bán không biết tài sản là tài sản trộm cắp, Cơ quan CSĐT không đặt vấn đề xử lý.
Về dân sự: Sau khi bị mất xe đạp, ông Nguyễn Đình Đ là bảo vệ chung cư đã đền bù cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 500.000 đồng, chị Phạm Thị H1 số tiền 2.500.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Thu H2 đã được gia đình Lê Tú T bồi thường số tiền 2.000.000 đồng. Do vậy, chị H, chị H1 và chị H2 không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Đối với ông Nguyễn Đình Đ đã được gia đình Lê Tú T bồi thường số tiền 3.000.000 đồng (là số tiền ông Đ đã bồi thường cho chị H và chị H1) do vậy ông Đ không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Đối với ông Hoàng Như T2 giao nộp số tiền 100.000 đồng và bà Đỗ Thị B giao nộp lại số tiền 50.000 đồng là số tiền hưởng lợi từ việc bán xe đạp. Ông T2 và bà B không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Chuyển Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu MINGU màu trắng đen và 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu RINCON màu xám đen, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho anh Nguyễn Văn Q 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu MINGU màu trắng đen và anh Nguyễn Tất T1 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu RINCON màu xám đen. Anh Q và anh T1 đã nhận lại xe, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Tại Bản cáo trạng số 249/CT-VKS ngày 24/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố bị cáo Lê Tú T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Tú T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa như sau: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Tú T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo hiện chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng chế định đối với người chưa thành niên phạm tội để áp dụng đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Lê Tú T mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng do bị cáo là người dưới 18 tuổi.
Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 900.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) (tiền bán xe cho ông Hoàng Ngọc V1 bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết) là khoản thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Về dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí về tội danh và điều luật của Viện Kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là trẻ sơ sinh bị bố mẹ bỏ rơi được Sư thầy Lê Văn L nhận làm con nuôi và nuôi dưỡng trong chùa từ nhỏ, hoàn cảnh thiếu thốn tình cảm của người thân; thời điểm phạm tội và xét xử đều dưới 18 tuổi. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; đã tự nguyện khắc phục hậu quả nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội làm lại cuộc đời.
Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Kết luận định giá tài sản; lời khai
của bị hại, người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 18 giờ 47 phút ngày 16/3/2024 tại hầm B1, tòa nhà A, chung cư R, phường P, L, Hà Nội, Lê Tú T có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe đạp địa hình nhãn hiệu RINCON màu xám đen tại thời điểm bị xâm hại trị giá 5.500.000₫ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) của anh Nguyễn Tất T1.
Hành vi của bị cáo Lê Tú T đã đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; làm mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục hậu quả nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015. Thời điểm phạm tội và xét xử, bị cáo dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật hình sự để xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng do bị cáo là người dưới 18 tuổi.
[4] Về dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 900.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) (tiền bán xe cho ông Hoàng Ngọc V1 bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết) là khoản thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với vụ trộm cắp xảy ra ngày 21/5/2024: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Tú T về hành vi Trộm cắp tài sản theo điểm a, khoản 1, Điều 15 nghị 144/2021/NĐ-CP mức phạt 1.250.000 đồng là có căn cứ.
Do hành vi trộm cắp xe đạp của Lê Tú T vào các ngày 15/3/2024, 17/3/2024 và ngày 14/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định
tách hành vi và tài liệu để tiếp tục thu thập hóa đơn chứng từ trưng cầu định giá tài sản, khi nào đầy đủ sẽ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xử lý đối với số tiền 150.000 đồng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L đã nộp theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 18/10/2024 trong vụ án này.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đề nghị áp dụng hình phạt chính, không áp dụng hình phạt bổ sung, về dân sự là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Tú T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Tú T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Tú T cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 900.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) (tiền bán xe cho ông Hoàng Ngọc V1 bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết) là khoản thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh P |
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Phương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân (Ký tên) |
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) |
Bản án số 64/2025/HSST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 64/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
