Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/HS-ST

Ngày 21 - 03 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.

Thẩm phán: Bà Lại Thị Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Quản Thị Dung;
  2. Bà Vi Thị Bình;
  3. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Ngần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:

Hà Thị V; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/02/1985, sinh tại huyện Y, tỉnh Sơn La; Nơi thường trú: Bản C, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp khi phạm tội: Nhân viên bưu điện X1; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Hà Văn Đ sinh năm 1956 và con bà Hà Thị Đ1 sinh năm 1958; Bị cáo có chồng là Nguyễn Minh T sinh năm 1982 và 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 05/4/2024 cho đến nay “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo Hà Thị V: Ông Cầm Văn T1 - Luật sư - Đoàn Luật sư tỉnh S “có mặt”.

- Các bị hại:

  1. Ông Hà Văn T2, sinh năm 1961. Trú tại: Bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “ vắng mặt”.
  2. Bà Lò Thị P, sinh năm 1962. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có mặt”.
  3. Anh Hà Văn T3, sinh năm 1977. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
  4. Anh Hà Văn T4, sinh năm 1984. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
  5. Ông Hà Văn T5, sinh năm 1940. Trú tại: Bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La.“vắng mặt”.
  6. Ông Hà Văn B, sinh năm 1960. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “vắng mặt”.
  7. Chị Quàng Thị K, sinh năm 1984. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
  8. Ông Lò Văn Q, sinh năm 1972. Trú tại: Bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
  9. Ông Lò Văn N, sinh năm 1964. Trú tại: Bản L, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
  10. Chị Quảng Thị V1, sinh năm 1972. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có mặt”.
  11. Anh Hà Văn S, sinh năm 1977. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
  12. Bà Vì Thị N1, sinh năm 1960. Trú tại: Bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
  13. Chị Quàng Thị H, sinh năm 1983. Trú tại: Bản L, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La“ có mặt”.
  14. Ông Hà Văn T11, sinh năm 1958. Trú tại: Bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
  15. Chị Hà Thị D, sinh năm 1974. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “vắng mặt”.
  16. Anh Lò Văn T6, sinh năm 1981. Trú tại: Bản T, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có mặt”.
  17. Anh Hà Văn N2, sinh năm 1991. Trú tại: Bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “ vắng mặt”.
  18. Chị Hà Thị T7, sinh năm 1990. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
  19. Chị Vì Thị C, sinh năm 1994. Trú tại: Bản T, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “ vắng mặt”.
  20. Chị Nguyễn Thị Hồng P1, sinh năm 1991. Trú tại: Bản Đ, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “vắng mặt”.
  21. Ông Hoàng Văn Q1, sinh năm 1964. Trú tại: N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có mặt”.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại ông Hà Văn T5: Ông Nguyễn Bá L, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S “có mặt”.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại bà Lò Thị P: Ông Đặng Văn Q2, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S “có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Hà Văn Đ, sinh năm 1956. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
  2. Bưu điện huyện Y, tỉnh Sơn La. Người đại diện theo pháp luật bà Ngô Thu T8 - Giám đốc bưu điện. Địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Thị V, sinh năm 1985, trú tại bản Huổi Sét, xã C, huyện Y là nhân viên hợp đồng Bưu điện văn hóa xã X1, huyện Y, tỉnh Sơn La từ ngày 01/10/2010 đến ngày 26/02/2024. Theo nội dung thể hiện tại hợp đồng thuê khoán đại lý cung cấp dịch vụ bưu chính chuyển phát, tài chính bưu chính, phân phối truyền thông và phục vụ hoạt động văn hóa xã tại Bưu điện - Văn hóa xã, V chỉ được giới thiệu về dịch vụ tài chính bưu điện mà không được giao dịch gửi tiền tiết kiệm với khách hàng. Năm 2020, do cần tiền chi tiêu và trả nợ, khi thấy có nhiều người dân trong xã hỏi gửi tiền tiết kiệm, V đã này sinh ý định chiếm đoạt tài sản. V cam kết làm thủ tục gửi tiền với lãi suất tiết kiệm Bưu điện. Do thiếu hiểu biết về quy trình gửi tiết kiệm Bưu điện nên nhiều người dân sinh sống trên địa bàn huyện Y tin tưởng, đưa tiền để V làm thủ tục gửi tiết kiệm. Ngoài ra, V còn hứa hẹn làm thủ tục, đóng phí bảo hiểm P2 (dịch vụ thu hộ của Bưu điện) cho khách, sau đó chiếm đoạt. Với thủ đoạn nêu trên, trong thời gian từ năm 2022 đến tháng 3/2024, Hà Thị V nhận của 21 công dân với tổng số tiền 1.140.276.000 đồng, hứa hẹn làm sổ tiết kiệm, đóng phí bảo hiểm nhưng không thực hiện. Khi người dân có nhu cầu rút tiền, V sử dụng một phần trong số tiền đã nhận, trả cho khách hàng 93.550.000.000 đồng. Cụ thể, như sau:

Lần thứ nhất: Năm 2020, ông Hà Văn T2, sinh năm 1961, trú tại: Bản N, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 30.000.000đ, kỳ hạn 12 tháng. V lập phiếu “Phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt" đưa cho ông T2. Hàng năm, khi đến cuối kỳ hạn, ông T2 đến gặp V để chốt tiền gốc, tiền lãi nếu tổng số tiền là lẻ thì ông T2 thêm tiền để tròn chục triệu và V lập phiếu xác nhận cho ông T2. Ngày 08/01/2024, ông T2 cầm phiếu xác nhận đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp V để kiểm tra lãi xuất theo định kỳ. Sau khi kiểm tra, V tính toán và bảo cho ông T2 biết cả gốc và lãi là 76.000.000đ. Sau đó, ông T2 đưa thêm cho V 4.000.000đ và đề nghị V mở tài khoản gửi tiết kiệm số tiền 80.000.000đ, kỳ hạn 12 tháng, lãi suất 5,8%/ năm. V lập phiếu xác nhận và ký tên vào phần giao dịch viên rồi đưa cho ông T2. Số tiền thực tế mà V nhận của ông T2 từ năm 2020 đến ngày 08/01/2024 là 60.000.000đ nhưng V không đến phòng giao dịch Bưu điện huyện Y để mở sổ tiết kiệm cho ông T2 theo thỏa thuận mà chiếm đoạt chỉ tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 2: Ngày 14/6/2021, bà Lò Thị P, sinh năm 1962, trú tại: Bản H, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 70.000.000đ. V lập “Phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt”, không thời hạn, lãi xuất 7,0%/năm và ký tên vào phần giao dịch viên, đóng dấu “đã thu tiền” rồi đưa cho bà P. Khoảng giữa năm 2023, bà P đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp V để gửi tiếp 70.000.000đ. Đến ngày 28/12/2023 bà P rút 20.000.000đ nên V lập lại phiếu xác nhận với số tiền là 50.000.000đ, kỳ hạn 06 tháng, lãi xuất 4,6%/năm. Số tiền 120.000.000đ, V chiếm đoạt rồi chỉ tiêu cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm mà cho bà P.

Lần thứ 3: Ngày 29/6/2021, anh Hà Văn T3, sinh năm 1977, trú tại: Bản H, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 22.000.000đ. V lập “Phiếu yêu cầu mở tài khoản" của Ngân hàng B1 ghi số tiền, kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 5,6%/năm và thông tin cá nhân của ông T3 rồi ký vào mục giao dịch viên, đóng dấu “Hà Thị V”, “đã thu tiền” và đưa cho ông T3. Ngày 29/5/2022, ông T9 đến Bưu điện gửi tiết kiệm thêm 25.000.000đ, V lập phiếu “Ngân hàng B1 (tiết kiệm)", kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 6,1%/năm, ký vào phần giao dịch viên bưu điện, đóng dấu “Hà Thị V” và “đã thu tiền” rồi đưa cho ông T3. Số tiền 47.000.000đ, V chiếm đoạt rồi chỉ tiêu cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm cho ông T3.

Lần thứ 4: Ngày 01/4/2022, anh Hà Văn T4, sinh năm 1984, trú tại: Bản H, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 50.000.000đ. V lập “Phiếu yêu cầu mở tài khoản" ghi số tiền, kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 5,7%/năm, thông tin cá nhân anh T4 rồi ký vào phần giao dịch viên, đóng dấu “Hà Thị V” và “đã thu tiền” rồi đưa cho anh T4. Đến khoảng tháng 4/2023, anh T4 đến Bưu điện rút lãi theo kỳ hạn, V sử dụng tiền của bản thân trả cho anh T4 với số tiền là 2.850.000đ. Số tiền gốc 50.000.000₫ anh T4 tiếp tục gửi tiết kiệm nên V bảo anh T4 vẫn cầm phiếu cũ. Như vậy số tiền thực tế V chiếm đoạt được của anh T4 là 50.000.000₫ - 2.850.000đ = 47.150.000đ, V đã sử dụng để chỉ tiêu cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm cho anh T4.

Lần thứ 5: Ngày 09/6/2022, ông Hà Văn T5, sinh năm 1940, trú tại: Bản N, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 11.000.000đ. V lập phiếu "Ngân hàng B1 (tiết kiêm)", kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 6.1%/năm, ký tên vào phần giao dịch viên, đóng dấu “Hà Thị V” và “đã thu tiền” rồi đưa cho ông T10. Số tiền 11.000.000đ, V chiếm đoạt rồi chi tiêu cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm cho ông T5.

Lần thứ 6: Ngày 13/6/2022, ông Hà Văn B, sinh năm 1960, trú tại: Bàn H, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 9.000.000d. V lập phiếu “Ngân hàng B1 (tiết kiệm)", kỳ hạn 06 tháng, lãi xuất 5,8%/năm, ký vào phần giao dịch viên, đóng dấu “Hà Thị V” và “đã thu tiền” rồi đưa cho ông B. Ngày 01/7/2022, ông B đến Bưu điện gặp V để gửi tiếp 10.000.000đ, V nhận tiền rồi lập phiếu mới, kỳ hạn 06 tháng, lãi xuất 5,8%/năm và ký vào phần giao dịch viên, đóng dấu “Hà Thị V” và “đã thu tiền” rồi đưa cho ông B. Số tiền 19.000.000đ, V chiếm đoạt rồi chi tiêu cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm cho ông B.

Lần thứ 7: Ngày 01/9/2022, chị Quảng Thị K1, sinh năm 1984, trú tại: Bản H, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 11.000.000đ. V lập phiếu “Ngân hàng B1 (tiết kiệm)", kỳ hạn 12 tháng, ký tên vào phần giao dịch viên, đóng dấu “đã thu tiền” rồi đưa cho chị K1. Khoảng tháng 02/2023, chị K1 đến Bưu điện hai lần rút 4.000.000₫ (mỗi lần 2.000.000₫), khi chị K1 đến rút tiền lần thứ nhất V giữ lại phiếu. Ngày 25/5/2023, chị K1 đến Bưu điện để gửi tiếp 42.000.000đ, V lập phiếu “Ngân hàng B1 (tiết kiệm)", kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 7,6%/năm rồi ký tên vào phần giao dịch viên, đóng dấu “Hà Thị V” và “đã thu tiền” đưa cho chị K1. Ngoài ra, V còn đưa cho chị K1 một phiếu “Gửi tiết kiệm bưu điện” ghi 7.000.000đ, kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 5,8/năm thay cho phiếu mà chị K1 gửi lần đầu số tiền 11.000.000₫ và đã rút 4.000.000đ. Ngày 07/11/2023, chị K1 đến Bưu điện gửi tiếp 14.000.000đ, kỳ hạn 12 tháng, V lập “Phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt” ký tên và đóng dấu “đã thu tiền” rồi đưa cho chị K1. Đến ngày 30/11/2023, chị K1 đến Bưu điện rút 6.000.000đ, V đưa tiền và giữ lại phiếu, đến khoảng tháng 01/2024 V làm lại phiếu với số tiền 8.000.000đ, đề ngày 30/11/2023, kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 5,6%/năm rồi đưa cho chị K1. Ngày 01/02/2024, chị K1 đến Bưu điện gửi tiết kiệm 7.000.000đ, V lập phiếu “phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt”, kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 5,7%, sau đó ký tên và đóng dấu “đã thu tiền" rồi đưa cho chị K1. Các lần nhận tiền của chị K1 thì V không làm thủ tục mở tài khoản, sổ tiết kiệm cho chị K1 mà chiến đoạt chỉ tiêu cá nhân với tổng số tiền là 64.000.000đ (trong đó có phiếu ngày 30/11/2023 và phiếu ngày 01/02/2024 V viết nhầm tên của chị K1 thành Hà Thị K2).

Lần thứ 8: Ngày 11/12/2022, ông Lò Văn Q, sinh năm 1972, trú tại: Bản N, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 42.000.000đ. V lập “Phiếu yêu cầu mở tài khoản", kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 9,1%/năm, ký tên vào phần giao dịch viên, đóng dấu “Hà Thị V” và “đã thu tiền” rồi đưa cho ông Q. Số tiền 42.000.000đ, V chiếm đoạt rồi tiêu xài cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm cho ông Q.

Lần thứ 9: Ngày 02/12/2022, ông Lò Văn N, sinh năm 1964, trú tại: Bản L, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 40.000.000đ. V lấy “Phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt” mặt" đưa cho ông N ký vào phần khách hàng gửi tiền. Sau đó V chỉ viết vào phiếu số tiền 10.000.000đ và làm số gửi tiết kiệm cho ông N 10.000.000đ, số tiền 30.000.000đ còn lại V đã chiếm đoạt. Đến khoảng cuối tháng 3/2024, do sợ bị phát hiện việc chiếm đoạt 30.000.000đ nên V đến nhà nói với ông N “bác đưa em cầm số, khi nào muốn rút tiền thì báo em trước thì mới rút được đủ số tiền 40.000.000 đ, còn lên huyện chỉ được 10.000.000đ thôi", ông N nói “bây giờ chưa cần nên cũng chưa rút” rồi đưa số cho V. Số tiền 30.000.000đ, V chiếm đoạt rồi chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 10: Ngày 22/6/2023, chị Quảng Thị V1, sinh năm 1972, trú tại: Bản H, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 40.000.000đ. V lập phiếu “Gửi tiết kiệm", kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 7,1%/năm, ký tên vào phần giao dịch viên, đóng dấu “Hà Thị V” và “đã thu tiền” rồi đưa cho chị V1. Ngày 07/11/2023, chị V1 tiếp tục gửi 10.000.000đ, V lập “Phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt", kỳ hạn 08 tháng, lãi xuất 5,1%/năm rồi ký tên và đóng dấu “đã thu tiền” rồi đưa cho chị V1. Số tiền 50.000.000đ, V chiếm đoạt rồi chỉ tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 11: Ngày 10/8/2023, anh Hà Văn S, sinh năm 1977, trú tại: Bản H, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 100.000.000đ. V lập phiếu “Ngân hàng B1", kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 7,1%/năm, ký tên vào phần giao dịch viên, đóng dấu “Hà Thị V” và “đã thu tiền” rồi đưa cho anh S. Số tiền nhận được, V không làm thủ tục gửi tiết kiệm cho anh S. Đến khoảng tháng 10/2023 anh S hai lần đến Bưu điện gặp V để rút 20.000.000₫ (mỗi rút lần 10.000.000₫) nhưng V không lập lại phiếu. Số tiền 80.000.000đ, V chiếm đoạt rồi chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 12: Ngày 03/9/2023, bà Vì Thị N1, sinh năm 1960, trú tại: Bản N, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 16.000.000đ. V lập phiếu "Gửi tiết kiệm bưu điện", kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 6,7%/năm, ký tên vào phần giao dịch viên, đóng dấu “Hà Thị V” và “đã thu tiền” rồi đưa cho bà N1. Số tiền 16.000.000đ, V chiếm đoạt rồi chi tiêu cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm cho bà N1.

Lần thứ 13: Ngày 28/9/2023, chị Quàng Thị H, sinh năm 1983, trú tại: Bản L, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 77.000.000đ. V lập phiếu “Gửi tiết kiệm", kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 7,0%/năm, ký tên vào phần bên nhận tiền, đóng dấu “đã thu tiền” rồi đưa cho chị H. Khoảng tháng 3/2024 chị H đến rút 30.000.000đ nên V sử dụng tiền của bản thân trả lại 30.000.000đ cho chị H, nhưng không làm lại phiếu. Số tiền 47.000.000đ, V chiếm đoạt rồi chỉ tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 14: Ngày 04/10/2023, ông Hà Văn T11, sinh năm 1958, trú tại: Bản N, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 10.000.000đ. V lập phiếu "Gửi tiết kiêm bưu điện”, kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 5,8%/năm, ký vào phần giao dịch viên, đóng dấu “Hà Thị V" và "đã thu tiền” rồi đưa cho ông T11. Số tiền 10.000.000đ, V chiếm đoạt rồi chỉ tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 15: Ngày 27/11/2023, chị Hà Thị D, sinh năm 1974, trú tại: Bản H, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V gửi tiết kiệm 10.000.000đ. V lập “Phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt”, kỳ hạn 06 tháng, lãi xuất 5,0%/năm, ký vào phần giao dịch viên, đóng dấu “đã thu tiền", rồi đưa cho chị D. Số tiền 10.000.000đ, V chiếm đoạt chỉ tiêu cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm cho chị D.

Lần thứ 16: Ngày 29/11/2023, anh Lò Văn T6, sinh năm 1981, trú tại: Bản T, xã C, huyện Y cùng vợ là chị Lò Thị X đến Bưu điện xã X1 gặp H để liên hệ giao dịch đóng nộp tiền theo kỳ hạn vào hợp đồng bảo hiểm nhân thọ P4. Sau khi anh T6 cung cấp cho Vân mã hợp đồng khách hàng, Vân tra trên hệ thống phần mềm của Bưu điện thì biết số tiền cần phải nộp trong kỳ hạn là 31.276.000đ. Lúc này, V này sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh T6 nên nói lý do hệ thống phần mềm bảo hiểm bị treo không hoàn thành được giao dịch nộp tiền (mặc dù phần mềm bảo hiểm vẫn hoạt động bình thường) và sẽ in biên lai thu tiền sau. Anh T6 tin tưởng và giao số tiền trên cho V. Sau đó, V viết giấy nhận 31.276.000đ rồi đưa cho anh T6. Số tiền 31.276.000đ, V không nộp vào hợp đồng bảo hiểm nhân thọ P5 cho anh T6 mà chiếm đoạt chỉ tiêu cá nhân.

Lần thứ 17: Ngày 30/01/2024, anh Hà Văn N2, sinh năm 1991, trú tại: Bản N, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 35.000.000đ. V lập “Phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt”, kỳ hạn 03 tháng, lãi suất 4,1%/năm và ký tên vào phần giao dịch viên, đóng dấu “đã thu tiền” rồi đưa cho anh N2. Số tiền 35.000.000đ, V Chiếm đoạt chỉ tiêu cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm cho anh N2.

Lần thứ 18: Ngày 06/02/2024, chị Hà Thị T7, sinh năm 1990, trú tại: Bản H, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 11.000.000đ. V lập “Phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt", kỳ hạn 06 tháng, lãi xuất 5,0%/năm, rồi ký tên vào phần giao dịch viên, đóng dấu “đã thu tiền" rồi đưa cho chị T7. Số tiền 11.000.000đ, V Chiếm đoạt chỉ tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 19: Ngày 20/02/2024, chị Vì Thị C, sinh năm 1994, trú tại: Bản T, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 20.000.000đ. V lập “Phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt”, kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 5,1%/năm, ký tên vào phần giao dịch viên, đóng dấu “đã thu tiền” rồi đưa cho chị C. Số tiền 20.000.000đ, V chiếm đoạt chỉ tiêu cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm.

Lần thứ 20: Ngày 16/02/2024, chị Nguyễn Thị Hồng P1, sinh năm 1991, trú tại: Bản Đ, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V về việc muốn gửi tiết kiệm thì V nói “sắp hết giờ rồi để tỷ chị qua nhà”, đến đầu đầu giờ chiều cùng ngày ngày V đến nhà chị P1 và chị P1 đưa cho V số tiền 207.000.000đ. V viết “Giấy biên nhận" với nội dung nhận 207.000.000đ để mở sổ tiết kiệm với kỳ hạn 01 năm. Số tiền 207.000.000đ, V chiếm đoạt chỉ tiêu cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm cho chị P1.

Lần thứ 21: Ngày 05/3/2024, ông Hoàng Văn Q1, sinh năm 1964, trú tại: Bản N, xã C, huyện Y đến Bưu điện văn hóa xã X1 gặp Hà Thị V để gửi tiết kiệm 90.000.000đ. V lập “Phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt", kỳ hạn 12 tháng, lãi xuất 5,6%/năm, ký tên vào phần giao dịch viên và đóng dấu “đã thu tiền” rồi đưa cho ông Q1. Sau đó V nói do gửi gói kỳ hạn 12 tháng nên có chương trình khuyến mại tặng 700.000đ hoặc quả có trị giá tương đương, ông Q1 đồng ý nhận tiền nên V lấy tiền của bản thân đưa cho ông Q1 700.000đ. Như vậy số tiền thực tế V chiếm đoạt được của ông Q1 là 90.000.000₫ - 700.000₫ - 89.300.000 đ, V đã sử dụng để chỉ tiêu cá nhân mà không làm thủ tục gửi tiết kiệm cho ông Q1.

Vật chứng thu giữ gồm có; 01 (một) dấu chữ “Đã thu tiền”, mực màu đỏ, vỏ ngoài màu đỏ, 01 (một) dấu chữ “Hà Thị V”, mực màu xanh, vỏ ngoài màu xanh, nhãn hiệu “Trodat Printv 4911". 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, vỏ màu vàng cam, điện thoại đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số: 830/KL-KTHS ngày 04/4/2024 và số 1077, ngày 14/5/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh S kết luận: Chữ ký, chữ viết dưới mục “Giao dịch viên”; “Người nhận tiền” của các phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt; Ngân hàng B1 (Tiết kiệm); Gửi Tiết kiệm; Ngân hàng B1; G; Giấy biên nhận là do Hà Thị V ký, viết ra.

Qúa trình điều tra, Hà Thị V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận lợi dụng sự tin tưởng của người dân vào loại hình tiết kiệm Bưu điện nên đã dùng danh nghĩa nhân viên Bưu điện để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Bị cáo sử dụng Phiếu xác nhận giao dịch mở tài khoản bằng tiền mặt; Ngân hàng B1 (tiết kiệm); Gửi tiết kiệm; Ngân hàng B1; G; Giấy biên nhận do Hà Thị V viết, ký ra đóng dấu để khách hàng tin tưởng V đã làm thủ tục gửi tiết kiệm cho họ. Số tiền chiếm đoạt được, V sử dụng toàn bộ để chi tiêu và sử dụng cá nhân. Sau khi hành vi chiếm đoạt tài sản bị phát hiện, V đã tác động người nhà để khắc phục hậu quả. Ngày 13/6/2024, ông Hà Văn Đ (bố đẻ V) khắc phục cho 03 bị hại Lò Văn Thiết Hà Văn T11, Hà Thị Danh số tiền 51.276.000 đồng. Ngày 14/6/2024, 03 bị hại nhận bồi thường dân sự có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về dân sự: Bị cáo Hà Thị V có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại số tiền còn chiếm đoạt 995.450.000 đồng. Ông Hà Văn Đ (bố đẻ bị cáo) không đề nghị Hà Thị V phải trả lại số tiền đã giúp khắc phục.

Căn cứ vào văn bản số 5038/2014/QĐ-Lienvietpostbank ngày 08/9/2014 của Ngân hàng B1 và Điều 1 “Nội dung công việc” tại các Hợp đồng số 12/2020/HD-BĐH ngày 01/01/2020; số 32/HĐ-BĐYC ngày 01/11/2021; số 03/HĐ-BĐYC ngày 01/10/2022; số 33/HĐ-BĐYC ngày 01/09/2023 giữa Hà Thị V và bưu điện huyện Y. Xác định hoạt động dịch vụ huy động tiền gửi tiết kiệm Bưu điện chỉ được thực hiện tại địa điểm là Phòng G. Việc giao dịch chỉ có chức danh Giao dịch viên và Kiểm soát viên mới thực hiện công việc này. Bị cáo Hà Thị V là nhân viên hợp đồng của bưu điện nên không thuộc nội dung công việc, nhiệm vụ được giao của bị cáo Hà Thị V. Hai bên đã thanh lý hợp đồng theo biên bản thanh lý hợp đồng số: 02/BBTL-BĐH ngày 26/02/2024, do đó không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bưu điện huyện Y đối với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Tại bản Cáo trạng số: 22/CT-VKS-P3 ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Hà Thị V về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Hà Thị V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu và xin giảm nhẹ hình phạt.

Các bị hại có mặt tại phiên tòa bà Lò Thị P, chị Quàng Thị V2, chị Quàng Thị H, anh Lò Văn T6, ông Hoàng Văn Q1 và các bị hại vắng mặt tại phiên tòa thông qua đơn đề nghị xét xử vắng mặt và lời khai tại cơ quan điều tra. Đều yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền gốc để gửi tiết kiệm mà bị cáo đã chiếm đoạt khấu trừ đi số tiền bị cáo đã khắc phục còn lại là: 995.450.000 đồng của (19 bị hại). Các bị hại Hà Văn T11, Hà Thị D, Lò Văn T6 sau khi được bố đẻ bị cáo là ông Hà Văn Đ khắc phục một phần số tiền là 51.276.000 đồng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Bưu điện huyện Y, do bà Ngô Thu T8 - Giám đốc làm đại diện, qua đơn xét xử vắng mặt giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra không khai báo bổ sung và đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn Đ (bố đẻ bị cáo), thông qua đơn xin xét xử vắng mặt và lời khai tại cơ quan điều tra, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về dân sự, ông không yêu cầu bị cáo Hà Thị V phải hoàn trả lại số tiền ông đã khắc phục cho các bị hại Hà Văn T11, Hà Thị D, Lò Văn T6 số tiền là 51.276.000 đồng.

* Tranh luận tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, giữ nguyên quyết định truy tố, trình bày lời luận tội và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Hà Thị V phạm tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Thị V mức án phạt tù từ 12 năm đến 13 năm tù.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo được quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị chấp nhận bị cáo Hà Thị V đã tác động gia đình do ông Hà Văn Đ (là bố đẻ bị cáo) đã tự nguyện bồi thường số tiền 51.276.000 đồng cho các bị hại Lò Văn T6, Hà Văn T11, Hà Thị D. Chấp nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hà Văn Đ không yêu cầu bị cáo Hà Thị V phải hoàn trả lại số tiền tự nguyện nộp bồi thường lại cho các bị hại Lò Văn T6, Hà Văn T11, Hà Thị D là 51.276.000 đồng.

Buộc Hà Thị V phải bồi thường cho các bị hại tổng số tiền chiếm đoạt của 19 khách hàng là 995.450.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tiêu hủy công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng. Đối với chiếc điện thoại của bị cáo là phương tiện dùng vào việc phạm tội, đề nghị tuyên tịch thu sung nộp vào Ngân sách Nhà nước.

- Lời bào chữa của Luật sư ông Cầm Văn T1 bào chữa cho bị cáo Hà Thị V: Nhất trí với Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La là đúng người, đúng tội, không oan sai, nhất trí về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, nhân thân bị cáo là phụ nữ, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tích cực hợp tác cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm và trong quá trình giải quyết vụ án, đã tác động gia đình bời thường cho 03 bị hại là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử bị cáo mức án phạt tù thấp nhất như lời luận tộ. Ngoài ra, do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế và có trách nhiệm bồi thường dân sự cho các bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo Hà Thị V nhất trí với lời bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo, không có ý kiến đối đáp và tranh luận gì thêm, nhất trí bồi thường số tiền bị cáo chiếm đoạt trả lại cho các bị hại.

- Luật sư ông Nguyễn Bá L, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Hà Văn T5: Nhất trí với tội danh và điều luật do Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố đố với bị cáo, buộc bị cáo phải trả lại số tiền gốc đã chiếm đoạt của bị hại Hà Văn T5 là 11.000.00₫ và khoản tiền lãi xuất chậm trả, về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử lên mức án đối với bị cáo Hà Thị V tương xứng nghiêm khắc với giá trị chiếm đoạt tài sản của các bị hại,

Trợ giúp viên pháp lý ông Đặng Văn Q2, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lò Thị P: Nhất trí với tội danh và điều luật, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đề nghị. Đề nghị xem xét các tình tiết tăng nặng, bị cáo phạm tội nhiều lần, phạm tội đối với người già, mức hình phạt Viện Kiểm sát đề nghị là chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử lên một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo Hà Thị V, về trách nhiệm bồi thường dân sự buộc bị cáo Hà Thị V phải bồi thường cho bà Lò Thị P số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi) triệu đồng và khoản lãi xuất chậm trả theo mức lãi xuất theo quy định của Ngân hàng N3. Bị hại Lò Thị P nhất trí.

Các bị hại có mặt tại phiên tòa bà Lò Thị P, chị Quàng Thị V2, chị Quàng Thị H, anh Lò Văn T6, ông Hoàng Văn Q1 có mặt tại phiên tòa nhất trí như lời luận tội tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, không có ý kiến đối đáp và tranh luận.

Ý kiến tranh luận và đối đáp của Kiểm sát viên: Mức án của Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp đúng quy định của pháp luật, đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên Quyết định truy tố và lời luận tội tại phiên tòa, không có đối đáp và tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Công an tỉnh S, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tư cách tham gia tố tụng: Đối với chị Nguyễn Thị Hồng P1 được Tòa án xác định là bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa xác định được ngoài khoản tiền chị P1 gửi tiết kiệm số tiền 207.000.000₫ (hai trăm linh bảy) triệu đồng, giữa chị P1 và bị cáo còn tồn tại khoản vay số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) theo hình thức chuyển khoản. Xét thấy đây là quan hệ dân sự, nếu chị P1 có yêu cầu có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

Đối với Bưu điện huyện Y, tỉnh Sơn La, người đại diện theo pháp luật bà Ngô Thu T8 - Giám đốc bưu điện được Tòa án xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trong vụ án, bưu điện huyện Y là cơ quan quản lý, thực hiện hợp đồng thuê khoán với bị cáo Hà Thị V trong việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ theo vị trí công việc và đảm bảo việc tuân theo quy định làm việc của bưu điện. Việc giải quyết vụ án không làm phát sinh quyền lợi của cơ quan nhưng cơ quan có nghĩa vụ liên quan trong việc cung cấp tài liệu chứng cứ và bị ảnh hưởng bởi quyết định của Tòa án.

Trong vụ án có người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa, nhưng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có mặt, nhưng họ đều có đơn xin xét xử vắng mặt và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ có lời khai rõ ràng tại cơ quan điều tra. Xét thấy, những người tham gia tố tụng vắng mặt đã có ý kiến đầy đủ trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Hà Thị V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong vụ án, và phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã quyết định truy tố đối với bị cáo thể hiện: Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến tháng 3/2024, do muốn có tiền sử dụng chi tiêu cá nhân, Hà Thị V là nhân viên Bưu điện văn hóa xã X1, huyện Y. Mặc dù không được giao dịch gửi tiền tiết kiệm với khách hàng, không phải chức năng nhiệm vụ được giao, vẫn đưa ra thông tin gian dối, nhận tiền, hứa hẹn gửi tiết kiệm và nhận tiền hứa hẹn đóng phí bảo hiểm cho khách hàng nhưng không thực hiện, chiếm đoạt của 21 bị hại với tổng số tiền chiếm đoạt là 1.046.726.000 đồng (một tỷ không trăm bốn mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Trên cơ sở đó có đủ điều kiện, đủ căn cứ kết luận bị cáo Hà Thị V phạm tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Hà Thị V không có chức năng nhiệm vụ được giao, đã dùng thủ đoạn gian dối, tạo niệm tin chiếm đoạt số tiền của 21 bị hại là 1.046.726.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Chiếm đoạt số tiền có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo là người có trình độ học vấn, nhận thức rõ về hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật. Nhưng do muốn có tiền để sử dụng cho bản thân nên đã đưa ra thông tin gian dối, mặc dù không được giao dịch gửi tiền tiết kiệm với khách hàng vẫn nhận tiền, hứa hẹn gửi tiết kiệm và nhận tiền hứa hẹn đóng phí bảo hiểm cho khách hàng, mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại đặc biệt lớn, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu tại địa phương. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

[5] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự:

Xét nhân thân bị cáo Hà Thị V là phụ nữ phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo là người có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, coi thường pháp luật cố tình phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho 03 bị hại Hà Văn T11, Lò Văn T6 là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có ông ngoại là Hà Văn P3, bác ruột là Hà Văn Đ2 người có công với cách mạng; đa số các bị hại có đơn và đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, bị cáo phần nhiều đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm và trong quá trình giải quyết vụ án; là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy; Căn cứ vào giá trị tài sản chiếm đoạt của bị cáo, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nguyên nhân điều kiện phạm tội. Cần cách ly bị cáo Hà Thị V ra khỏi ngoài xã hội một thời gian mới đủ thời gian giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện có ích cho xã hội, cần lên một mức án tương xứng, nghiêm khắc với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Bị cáo Hà Thị V đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử xét thấy thời hạn tạm giam bị cáo còn trên 45 ngày, duy trì Quyết định tạm giam số: 148/2025/QĐTG ngày 24/02/2025 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, vận dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo không có tài sản giá trị, và bị cáo còn có nghĩa vụ bồi thường dân sự, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, không áp dụng hình bổ sung đối với bị cáo Hà Thị V.

[8] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Đối với số tiền 51.276.000 đồng do bị cáo tác động ông Hà Văn Đ tự nguyện bồi thường thay cho các bị hại Lò Văn T6, Hà Văn T11, Hà Thị D. ông Hà Văn Đ không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả và các bị hại Lò Văn T6, Hà Văn T11, Hà Thị D đã nhận đủ số tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự gì thêm. Xét tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

Xét yêu cầu của 19 bị hại đề nghị bị cáo Hà Thị V phải bồi thường trả lại số tiền gốc tổng số tiền là 995.450.000 đồng. Xét yêu cầu đề nghị bồi thường dân sự số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Buộc bị cáo Hà Thị V phải bồi thường cho các bị hại, vận dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589, Bộ luật Dân sự.

[8] Về vật chứng vụ án:

Đối với một dấu chữ “Đã thu tiền”, mực màu đỏ, vỏ ngoài màu đỏ và 01 dấu chữ “Hà Thị V”, mực màu xanh, vỏ ngoài màu xanh, nhãn hiệu “Trodat Printv 4911” là công cụ sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, vỏ màu vàng cam, điện thoại đã qua sử dụng bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội, cần tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về án phí: Bị cáo Hà Thị V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với khoản tiền bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại theo quy định pháp luật. Vận dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q3. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, vận dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, điểm i, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Hà Thị V phạm tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Xử phạt bị cáo Hà Thị V 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 05/4/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Thị V được quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589, Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận bị cáo Hà Thị V đã tác động gia đình do ông Hà Văn Đ (là bố đẻ bị cáo) và các bị hại đã tự nguyện bồi thường số tiền 51.276.000 đồng (năm mươi mốt triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn đồng chẵn) cho các bị hại Lò Văn T6 số tiền là 31.276.000 đồng, bị hại Hà Văn T11 số tiền là 10.000.000 đồng, bị hại Hà Thị Danh số tiền là 10.000.000 đồng.

Chấp nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hà Văn Đ không yêu cầu bị cáo Hà Thị V phải hoàn trả lại số tiền tự nguyện nộp bồi thường lại cho các bị hại Lò Văn T6, Hà Văn T11, Hà Thị D là 51.276.000 đồng (năm mươi mốt triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn đồng chẵn).

Buộc bị cáo Hà Thị V phải bồi thường cho 19 bị hại tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 995.450.000 đồng (chín trăm chín mươi lăm triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) cụ thể như sau:

  • Bồi thường cho bị hại ông Hà Văn T2, sinh năm 1961. Trú tại: Bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại Bà Lò Thị P, sinh năm 1962. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại anh Hà Văn T3, sinh năm 1977. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 47.000.000 đồng (bốn mươi bảy triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại anh Hà Văn T4, sinh năm 1984. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 47.150.000 đồng (bốn mươi bảy triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại ông Hà Văn T5, sinh năm 1940. Trú tại: Bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại ông Hà Văn B, sinh năm 1960. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại chị Quàng Thị K, sinh năm 1984. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 64.000.000 đồng (sáu mươi bốn triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại ông Lò Văn Q, sinh năm 1972. Trú tại: Bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 42.000.000 đồng (bốn mươi hai triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại ông Lò Văn N, sinh năm 1964. Trú tại: Bản L, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại chị Quàng Thị V2, sinh năm 1972. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại anh Hà Văn S, sinh năm 1977. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại bà Vì Thị N1, sinh năm 1960. Trú tại: Bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại chị Quàng Thị H, sinh năm 1983. Trú tại: Bản L, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 47.000.000 đồng (bốn mươi bảy triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại anh Hà Văn N2, sinh năm 1991. Trú tại: Bản N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại chị Hà Thị T7, sinh năm 1990. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại chị Vì Thị C, sinh năm 1994. Trú tại: Bản T, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Hồng P1, sinh năm 1991. Trú tại: Bản Đ, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 207.000.000 đồng (hai trăm linh bảy triệu đồng chẵn).
  • Bồi thường cho bị hại ông Hoàng Văn Q1, sinh năm 1964. Trú tại: N, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Số tiền: 89.300.000 đồng (tám mươi chín triệu, ba trăm nghìn đồng chẵn).

“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015”.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên xử lý vật chứng vụ án theo (Chi tiết biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/2/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La, vật chứng được bảo quản tại kho vật chứng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La) như sau:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tài sản thu giữ của bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di động, loại điện thoại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, vỏ màu vàng cam, đã qua sử dụng (đã được niêm phong).

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì nguyên niêm phong đã bóc mở.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) con dấu có chữ “ĐÃ THU TIỀN”, mực màu đỏ, vỏ hộp nhựa màu đỏ có kích thước: cao 6,5cm, dài 05cm, rộng 03cm, đã qua sử dụng và 01 (Một) con dấu tên “Hà Thị V”, mực màu xanh, vỏ hộp nhựa màu xanh có kích thước: cao 6,5cm, dài 05cm, rộng 2,5cm, trên vỏ hộp có dòng chữ "Trodat Printy 4911", con dấu đã qua sử dụng.

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản tiền các bị cáo phải bồi thường cho bị hại theo quy định pháp luật. Vận dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q3. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hà Thị V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 41.863.500 đồng (bốn mươi mốt triệu, tám trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm đồng chẵn).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo thủ tục hợp lệ./.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La;
  • - Cục THADS tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - Người bào chữa,
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại;
  • - Tổ Hành chính tư pháp;
  • - Lưu HS-AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Tuấn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 64/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Thị V bị VKSND tỉnh Sơn La truy tố vế tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 174 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger