|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2025/HS-ST Ngày: 20-03-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Sơn.
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2025/HSST ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Văn P, sinh năm: 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: 132/20 N, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: A H, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 1/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị Xuân M; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Ngày 15/4/2009, bị Tòa án nhân dân quận 6, TP .HCM xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 41/2009/HSST, chấp hành xong ngày 30/8/2010. Ngày 02/3/2012, bị Tòa án nhân dân quận 5, TP . HCM xử phạt 10 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 45/2012/HSST, chấp hành xong ngày 06/02/2018. Ngày 20/6/2019, bị Tòa án nhân dân quận 6, TP. HCM xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 53/2019/HSST, chấp hành xong ngày 30/8/2023.Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 31/12/2010, bị Ủy ban nhân dân phường A, quận H ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 333/QĐ-UBND).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H từ ngày 21/6/2024, có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng:
Người bị hại:
- Bà Dương Thị Kiều O, sinh năm: 2004
- Địa chỉ: 6 ấp B, (ấp T cũ), xã T, huyện H, Tp. HCM
- Bà Trần Hồng N, sinh năm: 2001
- Địa chỉ: G đường số C, phường B, Quận B, TP .
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Doanh nghiệp tư nhân V – Người đại diện: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1973
- Địa chỉ: A, Cư xá P, B, phường A, Quận F, TP .HCM
- Ông Trần Hữu T, sinh năm 1994
- Địa chỉ: A H, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ 00 ngày 16/6/2024, P điều khiển xe máy Honda Airblade màu xanh đen, biển số 59L3-536.09 chạy lòng vòng tìm người có tài sản để cướp giật. Khi P điều khiển xe trên đường Đ thuộc xã T, huyện H hướng về Chợ H đến trước nhà số F ấp B (ấp T cũ) xã T, huyện H thì phát hiện chị Dương Thị Kiều O điều khiển xe gắn máy Honda Vario màu xanh đen, biển số: 59K2 – 480.71 đang chạy chiều ngược lại, trên cổ chị O có đeo 01 sợi dây chuyền vàng loại 18 kara trọng lượng 02 chỉ nên P cho xe quay đầu lại đuổi theo rồi tăng ga từ phía sau áp sát vào phía bên phải của chị O và dùng tay trái giật sợi dây chuyền vàng này rồi tăng tốc độ bỏ chạy. Sau đó, P đem sợi dây chuyền đến tiệm V” địa chỉ A1, B, P.13, quận F bán cho Nguyễn Văn N được 5.945.000 đồng và đã tiêu xài hết. Sau khi bị giật dây chuyền chị O đã đến Công an xã T, huyện H trình báo.
Kết luận định giá tài sản số 195/KL-HĐĐGTS ngày 24/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện H kết luận: 01 sợi dây chuyền màu vàng loại 18 kara trọng lượng 02 chỉ trị giá 10.653.600 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 22 giờ 00 ngày 14/06/2024, P điều khiển xe máy Honda Airblade màu xanh đen, biển số 59L3-536.09 trên đường số A, P. B, quận B. Khi P đi đến đến trước nhà số A thì phát hiện chị Trần Hồng N đang điều khiến xe máy, biển số 59Y1 - 186.56 đang lưu thông cùng chiều, trên cổ chị N có đeo 01 sợi dây chuyền (loại vàng trắng) trọng lượng 2,8 chỉ; 01 mặt dây chuyền hình trái tim trọng lượng 0,47 chỉ nên cho xe chạy từ phía sau vượt lên áp sát xe từ bên phải xe của chị N, rồi dùng tay trái giật sợi dây chuyền rồi tăng tốc độ bỏ chạy. Sau khi giật được sợi dây chuyền, P đem đến tiệm V” địa chỉ A1, B, P.13, quận F bán cho Nguyễn Văn N được 12.180.000 đồng và đã tiêu xài hết. Đến ngày 18/6/2024, chị N đến Công an P.2, quận B trình báo. Ngày 19/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để nhập vụ án giải quyết theo thẩm quyền.
Kết luận định giá tài sản số 236/KL-HĐĐGTS ngày 11/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận B kết luận: 01 sợi dây chuyền, loại vàng trắng trọng lượng 2,8 chỉ; 01 mặt dây chuyền hình trái tim trọng lượng 0,47 chỉ (không tính kim cương đính trên mặt dây chuyền) trị giá 15.042.000 đồng.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Văn P khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đối với Nguyễn Văn N khi mua 02 sợi dây chuyền không biết do P phạm tội mà có, do đó không có căn cứ xử lý hình sự N về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của Trần Văn P:
- 01 (một) quần sọt Jeans màu xanh; 01 (một) áo thu màu trắng, cổ áo màu xanh, tay ngắn; 01 (một) mũ lưỡi trai vải màu trắng; 01 (một) áo thun ngắn màu đen, phía trước có họa tiết màu trắng; 01 (một) quần jean ngắn màu xanh; 01 (một) đôi dép nhựa màu đen có quai màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen.
- 01 (một) xe máy Honda Airblade màu xanh đen, biển số: 59L3-536.09 (SK: RLHKF5307PZ211942, SM: KF53E0071489). Qua xác minh do Trần Hữu T (em ruột P) làm chủ sở hữu. P mượn xe máy này của T đi làm rồi thực hiện hành vi phạm tội thì T không biết.
- 01 điện thoại di động Samsung GalaxyA23G 5G màu đen, seri: R5CW90PA79L.
Thu giữ của Nguyễn Văn N:
- 12.180.000 đồng là số tiền N tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả.
Về dân sự:
- Bà Nguyễn Thị Xuân M (mẹ ruột P) đã bồi thường cho bị hại Dương Thị Kiều O số tiền 9.000.000 đồng và bị hại Trần Hồng N số tiền 19.000.000 đồng, chị O và chị N đã có đơn bãi nại đối với P.
Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 18/02/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố đề nghị giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố Trần Văn P phạm tội “Cướp giật tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 4 năm tù đến 5 năm tù.
Xử lý vật chứng:
- 01 (một) quần sọt Jeans màu xanh; 01 (một) áo thu màu trắng, cổ áo màu xanh, tay ngắn; 01 (một) mũ lưỡi trai vải màu trắng; 01 (một) áo thun ngắn màu đen, phía trước có họa tiết màu trắng; 01 (một) quần jean ngắn màu xanh; 01 (một) đôi dép nhựa màu đen có quai màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) xe máy Honda Airblade màu xanh đen, biển số: 59L3-536.09 (SK: RLHKF5307PZ211942, SM: KF53E0071489). Qua xác minh do Trần Hữu T (em ruột P) làm chủ sở hữu. P mượn xe máy này của T đi làm rồi thực hiện hành vi phạm tội thì T không biết. Nên đề nghị trả lại xe cho ông T.
- 01 điện thoại di động Samsung GalaxyA23G 5G màu đen, seri: R5CW90PA79L của bị cáo, bị cáo không sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, đề nghị trả lại cho bị cáo.
Số tiền 12.180.000 đồng là số tiền N tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả. Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, nên đề nghị trả lại số tiền này cho ông N.
Do bị cáo không có việc làm nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, qua phần xét hỏi và tranh tụng công khai bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 15 giờ 00 ngày 16/6/2024, P điều khiển xe máy Honda Airblade màu xanh đen, biển số 59L3-536.09 chạy lòng vòng tìm người có tài sản để cướp giật. Khi P điều khiển xe trên đường Đ thuộc xã T, huyện H hướng về Chợ H đến trước nhà số F ấp B (ấp T cũ) xã T, huyện H thì phát hiện chị Dương Thị Kiều O điều khiển xe gắn máy Honda Vario màu xanh đen, biển số: 59K2 – 480.71 đang chạy chiều ngược lại, trên cổ chị O có đeo 01 sợi dây chuyền vàng loại 18 kara trọng lượng 02 chỉ nên P cho xe quay đầu lại đuổi theo rồi tăng ga từ phía sau áp sát vào phía bên phải của chị O và dùng tay trái giật sợi dây chuyền vàng này rồi tăng tốc độ bỏ chạy. Sau đó, P đem sợi dây chuyền đến tiệm V” địa chỉ A1, B, P.13, quận F bán cho Nguyễn Văn N được 5.945.000 đồng và đã tiêu xài hết.
Ngoài ra, khoảng 22 giờ 00 ngày 14/06/2024, P điều khiển xe máy Honda Airblade màu xanh đen, biển số 59L3-536.09 trên đường số A, P. B, quận B. Khi P đi đến đến trước nhà số A thì phát hiện chị Trần Hồng N đang điều khiến xe máy, biển số 59Y1 - 186.56 đang lưu thông cùng chiều, trên cổ chị N có đeo 01 sợi dây chuyền (loại vàng trắng) trọng lượng 2,8 chỉ; 01 mặt dây chuyền hình trái tim trọng lượng 0,47 chỉ nên cho xe chạy từ phía sau vượt lên áp sát xe từ bên phải xe của chị N, rồi dùng tay trái giật sợi dây chuyền rồi tăng tốc độ bỏ chạy. Sau khi giật được sợi dây chuyền, P đem đến tiệm V” địa chỉ A1, B, P.13, quận F bán cho Nguyễn Văn N được 12.180.000 đồng và đã tiêu xài hết. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với ý thức chủ quan, công khai, giữa đường phố bằng xe máy rồi nhanh chóng tẩu thoát nhằm mục đích chiếm đoạt 01 sợi dây chuyền màu vàng loại 18 kara của chị O, theo kết luận định giá tài sản số 195/KL-HĐĐGTS ngày 24/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện H kết luận: 01 sợi dây chuyền màu vàng loại 18 kara trọng lượng 02 chỉ trị giá 10.653.600 đồng và 01 sợi dây chuyền của chị N, theo kết luận định giá tài sản số 236/KL-HĐĐGTS ngày 11/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận B kết luận: 01 sợi dây chuyền, loại vàng trắng trọng lượng 2,8 chỉ; 01 mặt dây chuyền hình trái tim trọng lượng 0,47 chỉ (không tính kim cương đính trên mặt dây chuyền) trị giá 15.042.000 đồng.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu chứng cứ tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn P đã phạm tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo sử dụng xe máy để thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên đây được xem là dùng thủ đoạn nguy hiểm. Bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích, nay bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Điều 171 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
.....
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
i) Tái phạm nguy hiểm”
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm sở hữu tài sản của công dân, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét thêm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có hình phạt tương xứng.
- Tiền án:
- Ngày 15/4/2009, bị Tòa án nhân dân quận 6, TP .HCM xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 41/2009/HSST. Chấp hành xong ngày 30/8/2010.
- Ngày 02/3/2012, bị Tòa án nhân dân quận 5, TP . HCMxử phạt 10 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 45/2012/HSST. Chấp hành xong ngày 06/02/2018.
- Ngày 20/6/2019, bị Tòa án nhân dân quận 6, TP .HCM xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 53/2019/HSST. Chấp hành xong ngày 30/8/2023.
- Nhân thân: Ngày 31/12/2010, bị Ủy ban nhân dân phường A, quận H ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 333/QĐ-UBND).
- Tiền sự: Không.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, bị hại có đề nghị xem xét xử nhẹ cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Với các tình tiết nêu trên xét thấy cần có mức án thật nghiêm nhưng cũng tương xứng với tính chất mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, khi nghị án, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Xuân M (mẹ ruột P) đã bồi thường cho bị hại Dương Thị Kiều O số tiền 9.000.000 đồng và bị hại Trần Hồng N số tiền 19.000.000 đồng, chị O và chị N đã có đơn bãi nại đối với P và không yêu cầu gì nên Hội đồng không xem xét.
[5] Về vật chứng:
- 01 (một) quần sọt Jeans màu xanh; 01 (một) áo thu màu trắng, cổ áo màu xanh, tay ngắn; 01 (một) mũ lưỡi trai vải màu trắng; 01 (một) áo thun ngắn màu đen, phía trước có họa tiết màu trắng; 01 (một) quần jean ngắn màu xanh; 01 (một) đôi dép nhựa màu đen có quai màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) xe máy Honda Airblade màu xanh đen, biển số: 59L3-536.09 (SK: RLHKF5307PZ211942, SM: KF53E0071489). Qua xác minh do Trần Hữu T (em ruột P) làm chủ sở hữu. P mượn xe máy này của T đi làm rồi thực hiện hành vi phạm tội thì T không biết. Hội đồng xét xử quyết định trả lại xe cho ông T.
- 01 điện thoại di động Samsung GalaxyA23G 5G màu đen, seri: R5CW90PA79L của bị cáo, bị cáo không sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
- Số tiền 12.180.000 đồng là số tiền N tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả. Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại số tiền này cho ông N.
Xét bị cáo không có việc làm nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đối với Nguyễn Văn N khi mua 02 sợi dây chuyền không biết do P phạm tội mà có, do đó không có căn cứ xử lý hình sự N về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn P phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố Trần Văn P phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần sọt Jeans màu xanh; 01 (một) áo thu màu trắng, cổ áo màu xanh, tay ngắn; 01 (một) mũ lưỡi trai vải màu trắng; 01 (một) áo thun ngắn màu đen, phía trước có họa tiết màu trắng; 01 (một) quần jean ngắn màu xanh; 01 (một) đôi dép nhựa màu đen có quai màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen.
- Trả lại cho ông Trần Hữu T 01 (một) xe máy Honda Airblade màu xanh đen, biển số: 59L3-536.09 (SK: RLHKF5307PZ211942, SM: KF53E0071489).
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Samsung GalaxyA23G 5G màu đen, seri: R5CW90PA79L.
- Trả lại cho ông Nguyễn Văn N số tiền 12.180.000 (mười hai triệu một trăm tám mươi ngàn) đồng.
(Tang vật tạm giữ được thể hiện tại Quyết định chuyển vật chứng số 62/QĐ-VKS-HS ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/02/2025; lệnh thanh toán ngày 22/01/2025 của Ngân hàng N số tiền 12.180.000 đồng).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Phụng |
Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 64/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên bố Trần Văn P phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Văn P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/6/2024.
