Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 64/2025/HS-ST

Ngày 20-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Thanh Hải
  • Ông Đỗ Xuân Quyết

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quyết Thắng và ông Nguyễn Phúc T - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 276/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/HSST-QĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025; số 22/2025/HSST-QĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 và Thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 139/TB-TA ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Thị Vân A, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1980 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số F, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn K bà Nguyễn Thị T1(đã mất); có chồng là Nguyễn Hữu C; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/11/2023; có mặt;
  2. Nguyễn Xuân Q, sinh ngày 05 tháng 02 năm 1974 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: SỐ C H, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Thôn T, xã K, huyện T (nay là phường T, thành phố T), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K1 và bà Nguyễn Thị T2(đã mất); có vợ là Nguyễn Thị H năm 1983; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/5/2023; đến ngày 13/10/2023 được thay thế Biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt;
  3. Lê Thị X, sinh ngày 07 tháng 10 năm1982 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Số H phố V, tổ C phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty Đ2, chi nhánh H6; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình Đ và bà Vũ Thị L; có chồng là Bùi Đăng T3sinh năm 1974; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/5/2023; đến ngày 13/10/2023 được thay thế Biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt;
  4. H7, sinh ngày 03 tháng 05 năm 1990 tại Bắc Ninh; nơi cư trú: Căn hộ A, phường P, quận L, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Cộng tác viên Công ty Đ2; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn R và bà Phạm Thị B vợ là Phạm Thị T5sinh năm 1992; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/5/2023; đến ngày 13/10/2023 được thay thế Biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt;
  5. L3, sinh ngày 30 tháng 01 năm 1989 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: SỐ E, phường V, Quận N, Hải Phòng; nơi ở: Số A H, L, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Hữu N và bà Nguyễn Thị Ngọc B1; có vợ là Nguyễn Hồng N1sinh năm 1993; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/11/2023; đến ngày 12/4/2024 được thay thế Biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt;
  6. Vũ Huy B2, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1999 tại Hà Nội; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Cộng tác viên Công ty Đ2; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị T3; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 14/11/2023; có mặt;
  7. T19, sinh ngày 28 tháng 12 năm 1982 tại Thái Nguyên; ĐKHKTT: P23 C1 Tập thể K, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội; nơi ở: P Tòa B Chung cư G, phường C, quận B, thành phố H: Thẩm định viên Công ty H8 trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu T4 và bà Lê Thị Tuyết V; có vợ là Lê Hoàng Y năm 1984;

có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 14/11/2023; có mặt;

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị V1 AÔng Bùi Văn M– Luật sư Văn phòng L4thuộc đoàn luật sư thành phố H9 có mặt;

- Bị hại: Công ty Cổ phần V4 sở: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình

Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn T5– Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc công ty; vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Ngân hàng Ptrụ sở: Số B C, quận Đ, Hà Nội vắng mặt;
  • + Ngân hàng TMCP P1: Số A, quận H, Hà Nội vắng mặt;
  • + Ông Đỗ Văn T6– Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Số A, quận N, thành phố Hải Phòng có mặt;
  • + Ông Lương Hữu N1 chỉ: Số A, lô H L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng vắng mặt;
  • + Ông Ngô Văn N2 chỉ: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng vắng mặt;
  • + Bà Nguyễn Thị L1– Giám đốc Công ty TNHH V5 chỉ: Số A đường H, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng có mặt;
  • + Bà Phạm Thị N3– Giám đốc Công ty TNHH V6 chỉ: Tổ G, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng vắng mặt.

- Những người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Quang T7 vắng mặt;
  • + Bà Nguyễn Thị N4 vắng mặt;
  • + Ông Nguyễn Văn L2 vắng mặt;
  • + Ông Phạm Đức K2 vắng mặt;
  • + Ông Nguyễn Văn N5 vắng mặt;
  • + Ông Lê T8 T12 vắng mặt;
  • + Ông Vũ T9 Đ2 vắng mặt;
  • + Ông Phan Văn Ú vắng mặt;
  • + Ông Trần H1 N6 vắng mặt;
  • + Ông Vũ Đức T10; vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Thị V1 Alà Chấp hành viên Chi cục thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng (viết tắt Chi cục T20, được phân công tổ chức thi hành Bản án số 01/2022/KDTM-ST ngày 18/2/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên buộc Công ty cổ phần V7(viết tắt Công ty V1trả cho Ngân hàng P2 nhánh K4, Thái Nguyênsố tiền 103.739.423.311 đồng. Tài sản để thực hiện việc thi hành án theo Hợp đồng thế chấp số 31/2008/HĐTCTS-NHPT PC ngày 27/5/2008 của Công ty V8, Hô hiệu/Số IMO: XVUD9/9632181 giá trị thế chấp 102.550.000.000 đồng.

Sau khi được phân công, Chấp hành viên Hoàng Thị Vân A1 tiến hành kê biên tàu biển Hthẩm định giá, ký hợp đồng bán đấu giá với Công ty Đ2 (viết tắt Công ty Đ2) bán tàu Hải Thắng 18.

Về các hành vi vi phạm quy định trong quá trình bán đấu giá tàu Hải Thắng 18:

Do trước đó Nguyễn Xuân Q1 thuê tàu Hải Thắng 18 để kinh doanh nên Qmuốn mua tàu Hải Thắng 18; với động cơ mua được tàu Hải Thắng 18 với giá rẻ, Q1 liên hệ với nhân viên Công ty Đ2 và các đối tượng ngoài xã hội; cụ thể: Qđã nhờ Trần Vân K3(là thành viên sáng lập và cổ đông chính của Công ty Đ2) và được K2đồng ý mua tàu cho Qvới giá 19.200.000.000 đồng; Qđã chuyên khoản cho K2400.000.000 đồng để đặt cọc. Khi biết kết quả thẩm định giá tàu Hải Thắng 18 (cũng là giá khởi điểm để bán đấu giá) là 20.469.000.000 đồng, cao hơn giá đã thỏa thuận, nên K2đã trả lại Qsố tiền đặt cọc và giới thiệu Hà V2 T4là cộng tác viên Công ty Đ2 để giúp Qmua tàu Hải Thắng 18. T4Qvà K2thống nhất: Qsẽ trúng đấu giá với giá gần mức giá khởi điểm. Phương pháp thực hiện: Đưa các điều kiện gây khó khăn vào Quy chế bán đấu giá để hạn chế các đơn vị mua hồ sơ đấu giá và cho người của Q2 tham gia bán hồ sơ. Qđồng ý chi 800.000.000 đồng (trong đó dự kiến chi cho Công ty Đ2 300.000.000 đồng, Chi cục THADS Quận N đồng). Qđã nhờ Lương Hữu N(trú tại số E L, V, N, Hải Phòngcho L(con trai ông Nó trợ việc bán hồ sơ của Công ty Đ2 với mục đích không bán hồ sơ đấu giá cho công ty bên ngoài, chỉ bán cho Công ty của Q Khoảng tháng 4/2022, Q3 lập thêm Công ty TNHH V9(viết tắt Công ty V3để công ty này tham gia đấu giá tàu Hải Thắng 18 (thuê chị Phạm Thị N7 giám đốc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Q

Trần Vân K2giao cho Lê Thị X(giám đốc Công ty Đ2) chuẩn bị hồ sơ tổ chức bán đấu giá tàu Hải Thắng 18 và liên hệ với Chi cục THADS Quận N ký hợp đồng bán đấu giá. Đồng thời K2nói với X1 điều kiện cho Nguyễn Xuân Q4 được tàu nhưng không nói cho X7 việc Q5 chi tiền nếu mua được tàu. Ngày 23/8/2022 giám đốc Lê Thị X2 Chấp hành viên Hoàng Thị V1 Aký Hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tàu Hải Thắng 18 với mức giá khởi điểm là 20.469.000.000 đồng. Khi ký hợp đồng, T4nói với Vân Atạo điều kiện cho Q4 được tàu, Qsẽ cảm ơn Chi cục THADS Quận N không nói rõ cảm ơn như thế nào; Vân Atrả lời “biết thế". Sau đó, Nguyễn Xuân Q6 động gọi điện thoại cho Lê Thị Xliên H2 muốn mua tàu Hải Thắng 18, trao đổi cách thức đấu giá, đề nghị thêm vào Quy chế đấu giá một số điều kiện trái quy định của Luật bán đấu giá tài sản để hạn chế người mua như phải có "đăng ký kinh doanh vận tải biển", "có báo cáo tài chính có lãi của năm gần nhất" và "bảo lãnh của ngân hàng"... Do trước đó đã được K2và T4nói tạo điều kiện cho Q4 được tàu, nên X5 ý và chỉ đạo Vũ H3 B2là cộng tác viên Công ty Đ2 đưa thêm những nội dung trên vào Quy chế đấu giá để X3. Đồng thời, Q7 trao đổi với X4 nhờ Lương Minh T14(chủ nhà 38 A, Đ, H, Hải P địa chỉ cho Công ty Đ2 thuê làm trụ sở) sẽ hỗ trợ Vũ Huy B2bán hồ sơ, Tócó nhiệm vụ ngăn cản khách đến mua hồ sơ. Lê Thị X5 ý và chỉ đạo B2chỉ bán hồ sơ cho những khách hàng đã được T6kiểm duyệt.

Đối với các khách hàng khác (là các doanh nghiệp): Công ty T21 ty H4Công ty T17Công ty B5Công ty T18Công ty T19đến mua hồ sơ đấu giá tàu Hải Thắng 18 đều bị Lương M1 T6gây khó khăn không bán hồ sơ với lý do không đáp ứng các điều kiện như không có “đăng ký kinh doanh vận tải biển", không có “báo cáo tài chính”...

Công ty Đ2 mở bán hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tại trụ sở công ty, địa chỉ tại C A, Đ, H, H4 PhòngQđã sử dụng Công ty TNHH V10(viết tắt Công ty V2và Công ty V11 02 công ty do Q3 lập, sở hữu, thuê người khác làm giám đốc dưới sự điều hành trực tiếp của Qtham gia đấu giá với tư cách là 02 công ty độc lập, riêng biệt và định hướng Công ty V3sẽ trúng đấu giá. Qchỉ đạo chị Nguyễn Thị L1(giám đốc Công ty V12 hệ với Lương M1 T6để mua hồ sơ đấu giá, yêu cầu chị L1viết phiếu trả giá mua tàu Hải Thắng 18 là 20.469.000.000 đồng (bằng giá khởi điểm), sau đó chị L1ký tên và đóng dấu Công ty rồi đưa hồ sơ cho QCòn hồ sơ tham gia đấu giá của Công ty V13 tiếp mua với Tótự viết phiếu trả giá 20.489.000.000 đồng (cao hơn giá khởi điểm 20.000.000 đồng), yêu cầu chị Phạm Thị N3(giám đốc Công ty V14 tên, đóng dấu công ty rồi chuyển lại cho QHai phiếu trả giá này không được các giám đốc Nguyễn Thị L1Phạm T11 N3trực tiếp bỏ vào hòm phiếu đấu giá theo quy định mà do Q8 riêng đưa cho Lương M1 T6để T6bỏ vào hòm phiếu. Ngày 01/9/2022 T6thông báo với khách hàng nghỉ Lễ, không bán hồ sơ. Bỉnh báo cáo với X6 được chỉ đạo vẫn bán hồ sơ. Bỉnh, XT6thống nhất bán hồ sơ cho Công ty TNHH T22(viết tắt Công ty T20là công ty của gia đình Tóđể hợp thức các ngày nghỉ L3

Số tiền đặt cọc để tham gia đấu giá của Công ty V15 là tiền của Qcụ thể thực hiện như sau: Ngày 07/9/2022, Q9 đạo chị L1(giám đốc Công ty V16 khoản số tiền 4.000.000.000 đồng từ tài khoản Công ty V17 tài khoản Công ty Đ2 để đặt cọc tham gia đấu giá cho Công ty V2tiếp đó chỉ đạo chị L1rút tiền mặt 4.000.000.000 đồng từ tài khoản Công ty V15 nộp luôn số tiền này vào tài khoản của Công ty V3Sau đó, Q9 đạo chị N3(giám đốc Công ty V18 khoản số tiền trên đến Công ty Đ2 để đặt cọc tham gia đấu giá cho Công ty V9

Đối với các khách hàng khác (là các doanh nghiệp): Công ty T21 ty H4Công ty T17Công ty B5Công ty T18Công ty T19đến mua hồ sơ đấu giá tàu Hải Thắng 18 đều bị Lương M1 T6gây khó khăn không bán hồ sơ với lý do không đáp ứng các điều kiện như không có "đăng ký kinh doanh vận tải biển”, không có “báo cáo tài chính”, “bảo lãnh của ngân hàng". Đây là những điều kiện trái với quy định của Luật đấu giá tài sản nên nhiều công ty đã làm đơn tố cáo đến Chi cục THADS Quận N Ađã chuyển hình ảnh, nội dung đơn tố cáo và ảnh chụp bản viết tay các điều kiện mua hồ sơ đấu giá của Vũ H3 B2cho H T4T4chuyển cho QNgoài ra, để ngăn cản các doanh nghiệp mua hồ sơ, T6khóa cổng không cho khách vào công ty nên khách hàng phản ứng, Vũ H3 B2báo cáo Lê Thị X7 thì Xchỉ đạo B2đi mua camera và hướng dẫn lắp đặt quay vào cánh cửa không khóa, khép hở, mục đích để có căn cứ trả lời cơ quan chức năng nếu có khiếu nại. Đồng thời, để tránh bị cơ quan chức năng phát hiện, ngày 02/9/2022, Xchỉ đạo B2sửa lại Quy chế đấu giá, bỏ các điều kiện mua hồ sơ trái quy định tại Quy chế đấu giá số 2208.08/QCĐG-DDA và gửi cho Hoàng Thị V1 AĐến cuối giờ chiều ngày 05/9/2022 do có Quy chế đấu giá đã được sửa đổi đúng quy định của Luật đấu giá và thời điểm này có lực lượng Công an thành phố Hgiám sát nên các Công ty Cổ phần T21(viết tắt Công ty T23(Công ty Đ3(Công ty V19 được Tóđồng ý cho Bỉnh bán hồ sơ tham gia đấu giá.

Sau khi kết thúc việc bán hồ sơ đấu giá tàu Hải Thắng 18, có 06 công ty nộp hồ sơ tham gia đấu giá gồm: Công ty V20 T20Công ty T21Công ty Đ5và Công ty V4Chiều ngày 05/9/2022, Chấp hành viên Hoàng Thị V1 AVũ H3 B2và đại diện Công ty T24 hành niêm phong hòm phiếu, nhưng chỉ có 03 phiếu của Công ty Cổ phần Đ4 V4không có phiếu của Công ty V20 ty V3và Công ty T22(vì Tóchưa bỏ vào hòm phiếu theo chỉ đạo của X8 QTối 05/9/2022, Lê Thị XNguyễn X9 QVũ H3 B2và Lương Minh T6gặp nhau tại Công ty Đ2 ở số C A, Đ, H, H4 Phòngđể bàn cách xử lý 03 hồ sơ của Công ty Đ5 chỉ đạo B2bóc niêm phong hòm phiếu lấy phiếu của 03 công ty xem mức trả giá, trong đó Công ty Đ5trả giá 23.969.000.000 đồng, Công ty T25 giá 24.500.000.000 đồng, Công ty V4trả giá 21.469.000.000 đồng. Với mức trả giá như vậy thì công ty của Q5 không mua được tàu Hải Thắng 18 giá rẻ. Do vậy cả nhóm thống nhất để T6làm việc với 03 công ty trên yêu cầu họ rút tham gia đấu giá; Qđưa 500.000.000 đồng để Tóđi xử lý việc rút đơn; Xuyên gửi mẫu xin rút đơn đấu giá cho B2yêu cầu B2sửa lại cho phù hợp và B2sau đó gửi qua Zalo cho T6T6cùng một số đối tượng ngoài xã hội đến nhà riêng ông Trần H1 N6(giám đốc Công ty T26 đưa ông N6270 triệu đồng; đến nhà riêng ông Vũ Văn T12(giám đốc Công ty Đ6 200 triệu đồng và đến nhà riêng ông Phan Văn Ú(giám đốc Công ty V21 sẽ đưa 150 triệu đồng để yêu cầu rút đơn theo mẫu T14đưa. Sau đó, các công ty trên đã nộp đơn xin rút không tham gia đấu giá và không nộp tiền đặt cọc theo quy định. Tuy nhiên, ông Nóông T15không thừa nhận số tiền T14đưa mà khai do lo sợ nên rút đơn. Sau khi các công ty trên rút đơn, ngày 07/9/2022, Vũ H3 B2mới bỏ phiếu trả giá của Công ty V20 ty V2của Nguyễn Xuân Q10 hòm phiếu rồi niêm phong lại. Cùng ngày, Công ty Đ2 ra Thông báo số 2208.08/TBKH-DDA về việc xác định khách hàng đủ điều kiện tham gia đấu giá gồm: Công ty V3và Công ty V204 Công ty còn lại không đủ điều kiện tham gia đấu giá vì không nộp tiền đặt cọc.

Ngày 08/9/2022, Công ty Đ2 tổ chức bán đấu giá tàu Hải Thắng 18 tại Hội trường tầng 2 - Số A Hkhu ĐTM, ngã 5 sân bay C, ĐNgô Quyền, Hải Phòng. Có 02 đơn vị tham gia đấu giá đều là công ty của Nguyễn Xuân Q11 đó, Công ty V22 mức giá 20.469.000.000 đồng, Công ty V3trả giá 20.489.000.000 đồng. Như vậy, Công ty V23 xác nhận là đơn vị trúng đấu giá (cao hơn giá khởi điểm 20.000.000.000 đồng). Cùng ngày, Chi cục THADS Quận T20 V3và Công ty Đ2 đã ký Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 126/HĐMB-TSĐG bán tàu Hải Thắng 18 cho Công ty V24 19/9/2022, Công ty V25 đủ số tiền 20.489.000.000 đồng, đề nghị được bàn giao tàu Hải Thắng 18.

Do phát hiện hành vi vi phạm trong hoạt động bán đấu giá, ngày 05/10/2022 Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có Kiến nghị số 09/QĐ-VKS yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tàu Hải Thắng 18; ngày 11/10/2022, Chi cục THADS Quận T20 và Công ty V26 biên bản thống nhất hủy Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 126/2022/HĐMB-TSĐG ngày 08/9/2022. Do kết quả bán đấu giá tàu Hải Thắng 18 bị hủy nên Nguyễn Xuân Q12 chi số tiền 800 triệu đồng cho T4K2như thỏa thuận.

Việc bán đấu giá tàu Hải Thắng 18 do Công ty Đ2 thực hiện đã vi phạm các quy định tại mục a, b, c khoản 4 và mục b, c, d khoản 5, Điều 9 Luật đấu giá tài sản (theo kết luận của Hội đồng giám định Sở tư pháp Hải Phòng đã kết luận số 01-2023/KLGĐ ngày 30/3/2023 và Sở Tcó kết luận giám định số 20/CTC-GĐTP ngày 27/4/2023); đã gây thiệt hại số tiền 3.980.000.000 đồng. Hậu quả thiệt hại được các cơ quan Công an, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng ngăn chặn, nằm ngoài ý muốn của các bị cáo.

Để tiếp tục thi hành án đối với Công ty cổ phần V27, Chi cục THADS Quận N thông báo lựa chọn đơn vị bán đấu giá tàu Hải Thắng 18 đăng trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại cơ quan theo đúng quy định. Kết quả Trung tâm Dđược lựa chọn là đơn vị tổ chức bán đấu giá lại tàu Hải Thắng 18 đã ra thông báo bán đấu giá, ban hành Quy chế bán đấu giá và thực hiện việc bán hồ sơ đấu giá theo đúng quy định của Luật bán đấu giá tài sản. Sau khi kết thúc việc bán hồ sơ, có 02 đơn vị tham gia đấu giá là Công ty TNHH H10(viết tắt Công ty H5và Công ty TNHH V28(viết tắt Công ty V5Ngày 28/11/2022, tổ chức phiên đấu giá lại tàu Hải Thắng 18, kết quả Công ty H11 đơn vị trúng đấu giá với số tiền 24.469.000.000 đồng. Ngày 27/12/2022, Công ty H12 nộp đủ tiền và Chi cục THADS Quận N Quyết định số 01/QĐ-CCTHSDS bàn giao tàu Hải Thắng 18 cho Công ty H13 bán đấu giá tàu Hải Thắng 18 lần thứ hai do Trung tâm Dthực hiện, được Hội đồng giám định của Sở tư pháp Hải Phòng kết luận số 01-2023/KLGĐ ngày 30/3/2023 là đúng trình tự, đúng quy định của Luật bán đấu giá tài sản.

Về vi phạm của Chấp hành viên Hoàng Thị Vân A2 việc ký Hợp đồng thuê neo đậu tàu Hải Thắng 18:

Để quản lý được tàu đảm bảo việc thi hành án, ngày 22/6/2022 Chấp hành viên Hoàng Thị V1 Aký Hợp đồng neo đậu tàu Hải Thắng 18 với Công ty Cổ phần T27 không thực hiện thủ tục khảo sát giá, không lấy báo giá, không tổ chức đấu thầu theo quy định, theo đó, giá thuê là 20.000.000 đồng/ngày, thời gian thuê 185 ngày (Chi cục THADS Quận N, thanh toán xong số tiền 3.700.000.000 đồng). Tuy nhiên, sau khi Công ty H14 trúng đấu giá, nhận bàn giao và tiếp tục ký Hợp đồng thuê neo đậu tàu Hải Thắng 18 với Công ty Cổ phần T28 thuê chỉ là 1.000.000 đồng/ngày, thời gian thuê 145 ngày (Công ty H12 thanh toán đủ số tiền 145.000.000 đồng).

Trước đó, ngày 02/12/2021, trong một việc tương tự, Chấp hành viên Hoàng Thị V1 Aký hợp đồng với Công ty TNHH Đ7 (có kích thước, trọng tải tương đương tàu Hải Thắng 18) nhưng cũng chỉ thuê với giá 2.500.000 đồng/ngày, thời gian neo đậu 144 ngày (Chi cục THADS quận N chỉ, thanh toán xong số tiền 360.000.000 đồng). Như vậy, việc Hoàng Thị Vân A3 hợp đồng thuê đều tàu Hải Thắng 18 với giá 20.000.000 đồng/ ngày là không đúng với giá thuê neo đậu tàu thực tế.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định thiệt hại trong việc ký kết, thực hiện Hợp đồng thuê neo đậu tàu. Kết luận giám định số 19/KL-GĐTP ngày 08/5/2024 của Sở T29 Hxác định số tiền thiệt hại trong việc Chấp hành viên Hoàng Thị Vân A3 kết Hợp đồng thuê neo đậu tàu Hải Thắng 18 với Công ty Cổ phần T30 3.496.500.000 đồng.

Hoàng Thị Vân A4 do không có kinh nghiệm trong việc thi hành án đối với tàu biển nên có thiếu sót và đã nhầm lẫn giữa việc thuê cầu cảng với thuê neo đậu trong cảng. Kết quả điều tra không xác định được Hoàng Thị V1 Acó động cơ vụ lợi trong việc tổ chức bán đấu giá cũng như việc thuê neo đậu tàu Hải Thắng 18.

Tại Cáo trạng số 417/CT-VKS-P3 ngày 16 tháng 12 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố đối với: Bị cáo Hoàng Thị V1 A về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Lê Thị XVũ Huy B Vân K Nguyễn Xuân Q L và Hà Văn T về tội Vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 218 Bộ luật Hình sự.

Đối với ông Đỗ Văn T13 cục trưởng Chi cục THADS Quận N trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị trong việc chỉ đạo bán đấu giá tàu Hải Thắng 18 thiếu đôn đốc kiểm tra, không kịp thời phát hiện sai phạm, tuy nhiên hậu quả được ngăn chặn. Việc ký hợp đồng thuê neo đậu tàu Hải Thắng 18 với Công ty Cổ phần T31 quy định tại Mục 20 Quyết định số 273/QĐ-TCTHADS ngày 22/02/2017 của Tổng cục T32 quy trình tổ chức thi hành án trong nội bộ cơ quan thì Chấp hành viên chịu trách nhiệm về việc ký hợp đồng trông coi, bảo quản tài sản. Do vậy, trách nhiệm chính thuộc về Hoàng Thị V1 AÔng Đỗ Văn T10có trách nhiệm liên đới nhưng quá trình điềutra không phát hiện động cơ vụ lợi nên Cơ quan điều tra V6đã ban hành Kiến nghị số 66/VKSTC-C1(P8) ngày 07/10/2024 đề nghị Tổng cục T23xem xét kỷ luật theo quy định.

Đối với ông Lương Hữu N8 liệu điều tra ban đầu thể hiện Nguyễn Xuân Qvà Lương Hữu N9 đổi thỏa thuận việc đấu giá tàu Hải Thắng 18 và Qđưa tiền cho ông N10 giải quyết các đơn vị mua được hồ sơ đấu giá yêu cầu rút đơn. Tuy nhiên, các đơn vị rút đơn không thừa nhận việc đã nhận tiền để rút đấu giá; ông N11 thừa nhận lời khai của Q13 ra quá trình điều tra không thu thập được các chứng cứ khác nên không đủ căn cứ xác định Lương Hữu N12 phạm với các bị can trong vụ án.

Đối với ông Ngô Văn N13 đốc công ty Cổ phần T33 Hợp đồng cho thuê neo đậu tàu Hải Thắng 18 giá cao. Tuy nhiên, xét thấy: đây là dịch vụ do đơn vị tự kinh doanh và không thuộc danh mục dịch vụ do Nhà nước định giá tại Điều 19 Luật giá năm 2012, đơn vị có quyền tự định giá dịch vụ cho thuê cầu bến để neo đậu tàu Hải Thắng 18. Quá trình điều tra không phát hiện thông đồng, móc nối với bên thuê để chia hưởng lợi nên không có căn cứ xử lý.

Đối với bà N15 bà Tô Thị M2 H1là người được bị can Phạm Xuân Q14 làm giám đốc, nhân viên công ty. Những người này đều thực hiện theo sự chỉ đạo trực tiếp của Q1và không biết việc N16 B3thông đồng dìm giá mua tàu Hải Thắng 18 do vậy không đồng phạm với các bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng được phân công ủy quyền giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 360; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị V1 A từ 07 – 08 năm tù về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng;
  • Căn cứ khoản 4 điều 360, cấm bị cáo làm công việc liên quan đến hoạt động bán đấu giá tài sản trong thời gian từ 03 -04 năm kể từ thời điểm sau khi chấp hành xong án phạt tù.
  • Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 218; điểm s khoản 1 Điều 51 (áp dụng khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Qvà T6, Điều 17, Điều 35 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Lê Thị XVũ H5 B2Trần Vân K2 Nguyễn Xuân Q Lương Minh T14 và Hà Văn T15 Đ3phạm tội Vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài;

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Xuân Q15 300 - 350 triệu đồng;

Phạt tiền bị cáo Lương M1 T6từ 300 - 350 triệu đồng;

Phạt tiền bị cáo Lê Thị X từ 250 - 300 triệu đồng;

Phạt tiền bị cáo Trần Vân K3 từ 220 - 250 triệu đồng;

Phạt tiền bị cáo H15 - 250 triệu đồng;

Phạt tiền bị cáo Vũ H3 B2từ 200 - 220 triệu đồng;

  • Căn cứ khoản 3 Điều 218 Bộ luật Hình sự, cấm các bị cáo Lê Thị XVũ Huy B2Trần Vân K2 và Hà Văn T làm công việc liên quan đến hoạt động bán đấu giá từ 03 -04 năm kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.
  • - Về dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Hoàng Thị V1 A có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty Cổ phần V7 số tiền 3.496.500.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường 20.000.000 đồng; bị cáo còn phải bồi thường tiếp 3.476.500.000 đồng.

  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 10 điện thoại di động và 01 máy tính xách tay thu giữ của bị cáo X;

+ Trả lại C1cụ THADS Quận N ổ cứng máy tính;

+ Trả lại Công ty V10 02 dấu chức danh, 02 dấu tròn.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Hoàng Thị Vân A5 chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được áp dụng hình phạt thấp nhất.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị V1 Acó quan điểm: Đồng nhất về tội danh, điều luật áp dụng như luận tội của Viện kiểm sát. Mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo có phần hơi nghiêm khắc nên mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo; người bào chữa; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh và khung hình phạt:

[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định:

[3.1] Chấp hành viên Hoàng Thị Vân A6 thực hiện chức năng giám sát việc bán hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tàu Hải Thắng 18, mặc dù biết Công ty Đ2 có vi phạm và Quy chế đấu giá bị sửa chữa, thay đổi trong quá trình đấu giá nhưng đã cẩu thả, bỏ qua các vi phạm, không kịp thời xem xét, hủy hợp đồng bán đấu giá của Công ty Đ2 dẫn đến gây thiệt hại cho bên phải thi hành án và bên được thi hành án, số tiền 3.980.000.000 đồng. Do được ngăn chặn kịp thời nên thiệt hại thực tế chưa xảy ra, tuy nhiên đây là điều ngoài ý muốn của các bị cáo. Do đó, mức thiệt hại này được xem xét để làm căn cứ xác định mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hoàng Thị Vân A6 ký kết hợp đồng thuê neo đậu tàu Hải Thắng 18 đã không khảo sát giá, không lấy báo giá, không tổ chức đấu thầu theo quy định, thuê neo đậu với giá cao đã gây thiệt hại số tiền 3.496.500.000 đồng. Tổng số tiền Hoàng Thị Vân A7 thiệt hại là: 7.476.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Hoàng Thị Vân A8 yếu tố cấu thành tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với tình tiết định khung hình phạt “Gây thiệt hại về tài sản từ 1.500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Với mục đích muốn mua được tàu Hải Thắng 18 với giá rẻ, Nguyễn Xuân Q1 móc nối cùng với Lê Thị XLương Minh T16 Văn T4Vũ Huy B Vân K bàn bạc, thống nhất sửa đổi quy chế đấu giá, gây cản trở, hạn chế đối với các doanh nghiệp khác tham gia đấu giá, tạo điều kiện thuận lợi cho công ty của Q16 thầu với mức giá thấp nhất. Quá trình tổ chức bán đấu giá tàu Hải Thắng 18, các bị cáo đã vi phạm quy định tại các mục a, b, c khoản 4 và mục b, c, d khoản 5 Điều 9 Luật Đấu giá tài sản về các hành vi bị nghiêm cấm trong việc bán đấu giá tàu Hải Thắng 18; đã gây thiệt hại cho bên phải thi hành án, số tiền 3.980.000.000 đồng. Hậu quả được ngăn chặn ngoài ý muốn của các bị cáo. Hành vi của các bị cáo Lê Thị XVũ H5 B2Trần Vân K2 Nguyễn Xuân Q Lương Minh T14 và Hà Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản vớ tình tiết định khung hình phạt “Gây thiệt hại cho người khác 300.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 218 Bộ luật Hình sự.

[4] Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.

- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Bị cáo Quà bị cáo Tógia đình có công với cách mạng, các bị cáo có nhiều đóng góp ủng hộ đối với đồng bào nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Bị cáo Vân A9 trình công tác có nhiều thành tích được khen thường; gia đình bị cáo có công với cách mạng; cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, các chi cục thi hành án dân sự Ngô Q2Hồ N14, Hvà bị hại đều có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo tích cực tác động gia đình nộp số tiền 20 triệu đồng khắc phục hậu quả. Bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Vai trò của các bị cáo

[9] Đối với hành vi Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng: Bị cáo Hoàng Thị Vân A10 vai trò độc lập. Xuất phát từ sự cẩu thả của bản thân khi thực hiện chức năng giám sát việc bán hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá tàu Hải Thắng 18 bị cáo đã bỏ qua các vi phạm dẫn đến gây thiệt hại cho bên phải thi hành án và bên được thi hành án; vi phạm quy trình khi ký kết hợp đồng thuê neo đậu tàu Hải Thắng 18 gây thiệt hại số tiền 7.476.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi vô ý.

[10] Đối với hành vi Vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản:

  • [10.1] Bị cáo Qlà người chủ động khởi xướng, đề xuất, đưa ra mục đích mua tàu Hải Thắng 18 với giá rẻ. Qchủ động liên hệ các đối tượng là K2và T6bàn bạc cách thức giúp Qthực hiện được mục đích. Qchủ động thành lập công ty V9 và công ty V29 L1làm giám đốc, trực tiếp tham gia đấu giá dưới sự chỉ đạo của Q
  • [10.2] Bị cáo T6là người giúp sức tích cực cho bị cáo Q17 tiếp ngăn cản các khách đến mua hồ sơ; trực tiếp làm việc với 03 công ty Đ8 để các công ty này rút hồ sơ đấu giá;
  • [10.3] Bị cáo Xlà người trực tiếp liên hệ với Chi cục thi hành án dân sự để làm các thủ tục bán đấu giá; chuẩn bị hồ sơ bán đấu giá; chỉ đạo B2đưa các nội dung trái quy định luật bán đấu giá vào quy chế đấu giá và chỉ bán hồ sơ cho những khách đã được Tókiểm duyệt;
  • [10.4] Bị cáo K2là người trực tiếp liên hệ giúp Qvề mặt thủ tục; đưa ra cách thức giúp Q4 được tàu giá rẻ bằng cách đưa các quy định trong quy chế bán đấu giá gây khó khăn cho những người tham gia đấu giá;
  • [10.5] Bị cáo T4có vai trò giúp sức, hỗ trợ K2thực hiện các thủ tục giúp Q
  • [10.6] Bị cáo B2theo sự chỉ đạo của X10 bán hồ sơ cho những khách hàng đã được Tókiểm duyệt; lắp camera đối phó với cơ quan chức năng khi có khiếu nại; trực tiếp bỏ phiếu trả giá của công ty V30 hòm phiếu, niêm phong.

- Về quyết định hình phạt:

[11] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đấu giá tài sản; gây thiệt hại trực tiếp về kinh tế cho cơ quan, tổ chức có tài sản bán đấu giá. Hành vi của bị cáo Hoàng Thị Vân A11 gây ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng cũng như Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền .Cần thiết áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, đủ tính răn đe đối với bị cáo.

[12] Các bị cáo Lê Thị XVũ Huy B2 Vân K2 Nguyễn Xuân Q Lương Minh T14 và Hà V2 T4có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân các bị cáo có nguyện vọng được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, có một khoản tiền đảm bảo thi hành án do đó có thể áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật được quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[13] Căn cứ vai trò của các bị cáo, hình phạt áp dụng với bị cáo Q18 hơn các bị cáo khác; bị cáo T6Xchịu hình phạt thấp hơn bị cáo Qvà cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo K2T4B2hình phạt cần thấp hơn ba bị cáo trên; trong đó, bị cáo K2hình phạt áp dụng cần cao hơn bị cáo T4bị cáo B2 có vai trò thấp nhất nên chịu mức hình phạt thấp nhất.

- Về hình phạt bổ sung:

[14] Hành vi Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng của bị cáo Hoàng Thị Vân A11 bị cấm làm công việc liên quan đến hoạt động bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 360 Bộ luật Hình sự.

[15] Hành vi của các bị cáo Lê Thị XVũ H5 B2Trần V1 K2và H T4còn bị cấm làm công việc liên quan đến hoạt động bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 218 Bộ luật Hình sự.

- Về dân sự:

[16] Đối với số tiền gây thiệt hại cho Công ty Cổ phần V7 do hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Thị V1 Agây ra là 3.496.500.000 đồng, cần buộc bị cáo Hoàng Thị Vân A12 thường cho Công ty Cổ phần V7. Gia đình bị cáo đã nộp bồi thường số tiền 20.000.000 đồng; bị cáo còn phải bồi thường tiếp 3.476.500.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng:

[17] Cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 10 điện thoại di động và 01 máy tính xách tay thu giữ của các bị cáo; trả lại cho Chi cục T20 01 ổ cứng máy tính; trả lại cho Công ty V10 02 dấu chức danh, 02 dấu tròn theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Về vấn đề khác:

[18] Công ty TNHH V10 và Công ty TNHH V9 được thành lập với mục đích hoạt động sai pháp luật, cần kiến nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng thu hồi giấy phép kinh doanh và con dấu đối với hai công ty này.

- Về án phí:

[19] Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Hoàng Thị V1 Aphải chịu 101.530.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

[20] Các bị cáo, những người có quyền lợi; nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 360; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị V1 A phạm tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng;

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị V1 A 07 (B4năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2023.

Cấm bị cáo hành nghề liên quan đến hoạt động bán đấu giá tài sản trong thời hạn 03 (Ba) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 218 (áp dụng thêm khoản 3 Điều 218 đối với các bị cáo Lê Thị XVũ Huy B2Trần Vân K2 và Hà Văn T17); điểm s khoản 1 Điều 51 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Nguyễn Xuân Q Lương Minh T14), Điều 17, Điều 35 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Lê Thị XVũ H5 B2Trần Vân K2 Nguyễn Xuân Q Lương Minh T14 và Hà Văn T15 Đ3phạm tội Vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản;

  • - Phạt tiền bị cáo Nguyễn Xuân Q19 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 350.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001513 ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; bị cáo còn phải nộp 50.000.000 đồng. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đối với bị cáo.
  • - Phạt tiền bị cáo Lương M1 T6350.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 350.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001519 ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đối với bị cáo.
  • - Phạt tiền bị cáo Lê Thị X 350.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 250.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001507 ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; bị cáo còn phải nộp 100.000.000 đồng. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C2đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
  • - Phạt tiền bị cáo Trần V3 K2 250.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 250.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001536 ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C2đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
  • - Phạt tiền bị cáo Hà Văn T18 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 200.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001526 ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; bị cáo còn phải nộp 20.000.000 đồng. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đối với bị cáo.
  • - Phạt tiền bị cáo Vũ H3 B2200.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 200.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001527 ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C2đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Cấm các bị cáo Lê Thị XVũ H5 B2Trần Vân K2 và Hà V2 T4làm công việc liên quan đến hoạt động bán đấu giá tài sản 03 (Ba) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Hoàng Thị V1 A có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty Cổ phần V7 số tiền 3.496.500.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường 20.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 001361 ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng). Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho Công ty Cổ phần V7 số tiền 3.476.500.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong nếu bị cáo chưa thi hành xong số tiền phải bồi thường thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:

  • + Phong bì niêm phong Điện thoại di động Samsung Galaxy A14 màu đen. Điện thoại của Hoàng Thị Vân A2 máy có sim 0904097166;
  • + 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax. Điện thoại của Lương M1 T6trong máy có sim 0934333320;
  • + 01 Điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Sam sung Galaxy S21 (đã qua sử dụng, đã được niêm phong);
  • + 01 Điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 (đã qua sử dụng, được niêm phong);
  • + 01 Điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Iphone Xsmax (đã qua sử dụng, được niêm phong);
  • + 01 Điện thoại di động màu vàng nhãn hiệu Iphone 7 Plus (đã qua sử dụng, được niêm phong);
  • + 01 Điện thoại di động màu trắng nhãn hiệu Iphone 11 (đã qua sử dụng, được niêm phong);
  • + 01 Điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Iphone 11 Promax (đã qua sử dụng, được niêm phong);
  • + 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax (đã qua sử dụng, được niêm phong);
  • + 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi redme k30i (đã qua sử dụng, được niêm phong);
  • + 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer. Máy tính của Lê Thị X11 số SNID 94514786850 được niêm phong.

- Trả lại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền: 01 ổ cứng máy tính để bàn S/N: ND8454R0013300S30D, lexar 240GB. Ổ cứng máy tính để bàn của Hoàng Thị Vân A(được niêm phong).

- Trả lại Công ty TNHH V10

  • + 01 dấu chức danh giám đốc Nguyễn Thị L1( đã qua sử dụng);
  • + 01 dấu tròn "công ty TNHH V31: 0201957889” đã qua sử dụng.

- Trả lại Công ty TNHH V9

  • + 01 dấu chức danh giám đốc Phạm Thị N3 ( đã qua sử dụng);
  • + 01 dấu tròn "công ty TNHH V9, MSDN: MSDN: 0202158790” đã qua sử dụng.

(Theo Phiếu nhập kho lập ngày 21 tháng 01 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng)

Kiến nghị: Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng thu hồi giấy phép kinh doanh và con dấu đối với Công ty TNHH V10 và Công ty TNHH V9.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  • - Các bị cáo, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Bị cáo Hoàng Thị V1 Aphải chịu 101.530.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

  • - Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Về quyền yêu cầu thi hành án:

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC; VKSNDCC;
  • - Vụ 1 - TANDTC;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - PC10 Công an TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TPHP;
  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng;
  • - UBND phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội;
  • - UBND xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội;
  • - UBND phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu: HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 64/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN VÂN ANH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger