Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUẦN GIÁO

TỈNH ĐIỆN BIÊN

Bản án số: 64/2025/HS-ST

Ngày 18/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Chiến và ông Trịnh Quyết Thắng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Bà Lường Phương Thảo, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tiến hành xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn K; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh ngày 15/01/1995; tại thành phố S, tỉnh Sơn La; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; con ông Lò Văn T, đã chết; con bà Quàng Thị N, sinh năm 1976; bị cáo từng có vợ là Đinh Thị Q và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: 01 tiền án (Tại Bản án số 67/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Lò Văn K 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 12/8/2024, Lò Văn K chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa từng bị xử lý hành chính; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/12/2024 cho đến nay tại phân trại tạm giam khu vực huyện T - Trại tạm giam Công an tỉnh Đ; bị cáo được trích xuất áp giải và có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Lường Văn D, sinh năm 1967; địa chỉ: Khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Cán bộ ngân hàng A. Vắng mặt có lý do.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; nơi thường trú: Bản Minh T1, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi tạm trú và chỗ ở hiện nay: Bản H, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt có lý do.
  • - Ông Lò Văn K1, sinh năm 1986; địa chỉ: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Bảo vệ ngân hàng A. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/12/2024, ông Lường Văn D; sinh năm 1976, chỗ ở hiện nay: Khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên có đơn trình báo về việc bị trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Future, màu đỏ đen, biển kiểm soát 27F6-9689.

Quá trình điều tra xác định được Lò Văn K là đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên của ông Lường Văn D.

Khoảng 09 giờ ngày 02/12/2024, Lò Văn K một mình đi bộ từ nhà ở bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên ra Ngân hàng N2 chi nhánh T3, thuộc khối T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi vào trong sân phía trước của Ngân hàng do thấy có đông người nên Lò Văn K ngồi đợi bên ngoài quan sát thấy tại khu vực nhà để xe cạnh nhà bảo vệ của Ngân hàng có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Future, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 27F6-9689 trị giá 3.000.000 đồng của gia đình ông Lường Văn D sinh năm 1967 trú tại Khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên là nhân viên của Ngân hàng vẫn còn cắm chìa khóa trên ổ khóa của xe. Lò Văn K ngồi đợi khoảng 10 phút, khi quan sát thấy không có ai để ý, trông coi, K lại gần chiếc xe máy và lấy 01 chiếc mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu xám, có phần lưỡi trai màu đen (không xác định được giá trị) của ông Lường Văn D đang treo ở xe đội lên đầu sau đó K lên xe vặn chìa khóa xe và nổ máy, điều khiển xe ra khỏi Ngân hàng di chuyển về hướng tỉnh Sơn La. Khi đi đến huyện T, tỉnh Sơn La thì K điều khiển xe đi vào cửa hàng thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991, trú tại bản H, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La hỏi bán xe máy trên cho chị H. Qua trao đổi, K nói với chị H là xe của K do bị rơi hết giấy tờ nên muốn bán, chị H đồng ý mua chiếc xe máy trên của K với số tiền 1.500.000 đồng. Sau khi bán được chiếc xe máy, K cầm theo mũ bảo hiểm rồi đón xe khách đi xuống thành phố S chơi, trên đường đi bị cáo mở cửa xe và vứt chiếc mũ bảo hiểm trên đường (Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm nhưng không thu được). Đến ngày 09/12/2024, sau khi tiêu xài hết số tiền bán xe máy, Lò Văn K bắt xe khách quay về nhà tại bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên thì bị Công an thị trấn T, huyện T đã tiến hành xác minh và mời lên làm việc, tại Cơ quan Công an, Lò Văn K đã thừa nhận về hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Ngày 10/12/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 1511/YC-ĐGTS yêu cầu định giá đối với các tài sản do bị cáo đã trộm cắp. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS, ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết luận: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ, biển kiểm soát 27F6-9689 có giá trị 3.000.000 đồng. Ngày 30/12/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ban hành Yêu cầu đinh giá tài sản số 1571/YC-ĐGTS yêu cầu định giá đối với 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu xám, có phần lưỡi trai màu đen, bên trong có lót xốp không rõ nhãn hiệu, mũ đã cũ qua sử dụng. Tại công văn số 03/CV-HĐĐGTS, ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T trả lời: Đối với tài sản là 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu, màu xám, có phần lưỡi trai màu đen, bên trong có lót xốp không rõ nhãn hiệu, mũ đã cũ qua sử dụng không xác định được giá trị của tài sản. Bị cáo đồng ý với Kết luận định giá của Hội đồng định giá.

Tại Cáo trạng số: 28/CT-VKSTG ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo về hành vi Trộm cắp tài sản. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Về xử lý vật chứng và bồi thường dân sự: Không đề nghị xem xét. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tại đơn đề nghị bị hại trình bày: Bị hại đã nhận lại tài sản; đối với chiếc mũ của bị hại mà bị cáo đã ném đi, do không có giá trị sử dụng nên bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Về hình phạt đối với bị cáo, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trình bày của chị Nguyễn Thị H: Chị H thừa nhận đã mua lại xe do bị cáo bán, nhưng chị H không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có. Đến nay chị H không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền 1.500.000đ.

Trình bày của anh Lò Văn K1: Trong thời gian làm việc, do anh K1 là người bảo vệ của cơ quan đã để Lò Văn K trộm cắp 01 xe máy. Đến nay bị hại đã nhận được xe máy, anh K1 không có yêu cầu gì đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với nội dung Kết luận điều tra; Cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/12/2024, lợi dụng sơ hở của anh Lường Văn D bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ, biển kiểm soát 27F6-9689 có giá trị 3.000.000 đồng của anh D, nhằm mục đích mang bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo, đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt đối với hành vi phạm tội của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Tại khoản 1 Điều 173 BLHS quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Bởi vậy khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ vụ án thấy: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của ông Lường Văn D được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo khiến cho tâm lý của nhân dân lo lắng, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã từng nhận được sự cải tạo, giáo dục của Nhà nước nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà còn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Qua đây có thể thấy, bị cáo là người không có ý thức chấp hành pháp luật, không tôn trọng quyền tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bởi vậy, cần xử lý thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi của bị cáo đã thực hiện; nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tiền sự; bị cáo có 01 tiền án tại Bản án số 67/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Lò Văn K 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 12/8/2024, Lò Văn K chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích. Bị cáo đã cố ý phạm tội trong trường hợp chưa được xóa án tích, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 BLHS quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền; tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Xét đề nghị về tội danh và mức hình phạt của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo; Hội đồng xét xử xét thấy là đúng hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, nên HĐXX không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Tại Quyết định số: 1513/QĐ-CSĐT-ĐTTH ngày 25/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ, biển kiểm soát 27F6-9689 có giá trị 3.000.000 đồng cho anh Lường Văn D. Việc trả lại tài sản đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo thuộc trường hợp phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đối với chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991, trú tại bản H, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La là người đã mua chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Future, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 27F6-9689 do bị cáo Lò Văn K trộm cắp được mà có, khi mua chị H không biết chiếc xe trên là tài sản do Lò Văn K trộm cắp nên chị H không vi phạm pháp luật. Số tiền chị H đã trả cho bị cáo là 1.500.000đ chị H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, không yêu cầu giải quyết, do vậy HĐXX không xem xét.

Đối với anh Lò Văn K1, sinh năm 1986, trú tại bản Cá, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên là nhân viên bảo vệ Ngân hàng N2 Chi nhánh huyện T3, quá trình điều tra, xác định thời điểm Lò Văn K trộm cắp chiếc xe máy trên, anh K1 đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và kiểm tra khu vực phía sân sau của Ngân hàng nên không biết việc K trộm chiếc xe máy, nên không đề cập xử lý. Anh K1 cũng không có ý kiến gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.

[10] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự:

  1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn K 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2024.
  3. Về bồi thường dân sự: Không yêu cầu.
  4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Lò Văn K phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình. Thời hạn kháng cáo đối với người có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 18/3/2025), đối với người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Điện Biên;
  • - Phòng HSNV (PV06) Công an tỉnh Điện Biên;
  • - Phân trại tạm giam khu vực huyện Tuần Giáo - Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Tuần Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - THAHS + Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lương Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 64/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger