|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2025/HS-ST
Ngày: 12 - 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lan
Bà Nguyễn Thị Nhung
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Đặng Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn H
Tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Sinh năm: 1983 tại tỉnh Điện Biên
Nơi thường trú - nơi ở hiện tại: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Con ông: Lò Văn Q (đã chết) và bà: Lò Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 15/10/2024 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 20 phút ngày 15/10/2024, tổ công tác Công an thành phố Đ làm nhiệm vụ tại Tổ dân phố X, phường N, thành phố Đ phát hiện Lò Văn H đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Sau khi được Tổ công tác vận động, truyên truyền, H khai nhận đang cất giấu ma túy và tự đưa từ lòng bàn tay trái của mình ra giao nộp 01 gói được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa 01 cục chất bột màu trắng. H khai đó là Heroine, nguồn gốc ma túy là do mình vừa mua trước đó của một người đàn ông không quen biết ở khu vực Tổ dân phố X, phường N với giá 400.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy bị cáo cầm trong lòng bàn tay trái của mình và đi bộ về lán thợ của mình thì bị phát hiện.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói được gói ngoài bằng mảnh giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa 01 cục chất bột thể rắn màu trắng đục, khối lượng 0,29 gam, 01 chiếc điện thoại di động Realme C35 màu xanh kèm sim số 0356406xxx.
Tại bản kết luận giám định số 1630/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Vật chứng có khối lượng 0,29 gam chất bột thể rắn màu trắng đục là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine). Hoàn lại đối tượng giám định có khối lượng 0,24 gam có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSĐBP ngày 21/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo từ 20 đến 23 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,24 gam Heroine hoàn lại sau giám định, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 sim số 0356406xxx. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C35. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không bào chữa gì cho hành vi của mình. Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy niêm phong lại vật chứng, Kết luận giám định...Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 21 giờ 20 phút ngày 15/10/2024, tại khu vực Tổ dân phố X, phường N, thành phố Đ, Lò Văn H đã có hành vi cất giấu trái phép 0,29 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.
[2]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số 22/2023/HS-ST ngày 15/02/2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, do thiếu ý thức, rèn luyện bản thân nên không từ bỏ được ma túy và vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương đối nghiêm khắc đối với bị cáo vì khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn. Tuy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cho bị cáo có thời gian cai nghiện để trở thành công dân tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật. Nhưng có thể cho bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành.
[4]. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
Đối với 0,29 gam Heroine thu giữ của bị cáo, sau khi gửi toàn bộ giám định còn lại 0,24 gam là vật Nhà nước cấm tàng trữ; mảnh giấy bạc là vật dùng gói ma túy, 01 sim số 0356406xxx không có giá trị, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C35 thu giữ của bị cáo, bị cáo khai dùng để liên lạc mua ma túy, là vật mang dấu vết tội phạm nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[5]. Các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy: Quá trình điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không có cơ sở xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[6]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đều hợp pháp.
[7]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (15/10/2024).
3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,24 gam Heroine vật chứng còn lại sau giám định và 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 sim số 0356406xxx.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Realme C35 màu xanh.
(Vật chứng đã được niêm phong và được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng 22/01/2025).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/02/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Huệ |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Điện Biên Phủ, ngày 19 tháng 3 năm 2025
Số: 08/2025/TB-TA
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 64/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên có lỗi chính tả cần được sửa chữa, bổ sung như sau:
Về nội dung tại dòng thứ 20 từ trên xuống trang 5 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14...”.
Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14...”.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Huệ |
Bản án số 64/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 64/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÒ VĂN H
