TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/01/2025 V/v: ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên
Ông Nguyễn Phúc Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 352/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐ-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024;
Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1986. HKTT: tổ dân phố H, phường D, quận H, TP Hà Nội. (có mặt)
Bị đơn: Anh Dương T, sinh năm 1982. HKTT: tổ dân phố H, phường D, quận H, TP Hà Nội. Hiện ở: số B ngách B ngõ G đường L, phường D, quận H, TP Hà Nội. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu tiếp theo trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn – Chị Trương Thị H trình bày như sau:
Chị Trương Thị H và anh Dương T đăng ký kết hôn ngày 28/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã D, TP H, tỉnh Hà Tây nay là phường D, quận H, TP Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa chỉ số B ngách B, ngõ G đường L, phường D, quận H, TP Hà Nội.
Quá trình anh chị chung sống không hạnh phúc, bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2012, anh T thường xuyên uống rượu, chửi bới, đánh đập chị vô cớ. Sau nhiều lần anh T vẫn không thức tỉnh, vẫn thường xuyên đi uống rượu rồi về nhà chửi bới, đánh vợ, làm ảnh hưởng đến tâm lý của chị và các con. Năm 2023, anh T hành hung, đánh đập chị khiến chị phải nhập viện Bệnh viện 103 với chẩn đoán của bác sỹ bị chấn động não, chấn thương mặt, do chị nghĩ đến các con nên không trình báo đến cơ quan pháp luật. Tháng 01/2024, do không chịu được anh T đánh đập nhiều lần, chị đã ly thân, chị và 02 con đã dọn ra ngoài ở để chị chăm lo cho các con. Từ khi ly thân, anh T không gọi điện hỏi thăm các con, không đến thăm các con và không chu cấp cho các con. Nay, chị nhận thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị xin ly hôn với anh T để tạo dựng cuộc sống mới.
-Về con chung: Chị Trương Thị H và anh Dương T có 02 con chung là cháu Dương Tú Q sinh ngày 03/8/2009 và cháu Dương Hoàng N sinh ngày 19/9/2013. Ly hôn, chị H đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung vì lý do từ khi anh chị ly thân, một mình chị chăm sóc các cháu. Anh T không thăm nom, không chu cấp nuôi các con. Do hai cháu còn nhỏ đang phát triển về tâm sinh lý, chị đang nuôi dạy các cháu ổn định, vì vậy chị đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con, yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi con chung 5.000.000đồng/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Hiện nay chị H đang làm kế toán, có thu nhập từ việc kinh doanh và lương khoảng 20.000.000 đồng/tháng.
-Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định chị và anh Dương T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn - anh Dương T:
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh T đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Tại phiên hòa giải và công khai chứng cứ lần thứ hai, anh T đến Tòa án làm việc và trình bày như sau:
-Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị H và anh Dương T tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 28/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã D, TP H, tỉnh Hà Tây nay là phường D, quận H, TP Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa chỉ số B ngách B, ngõ G đường L, phường D, quận H, TP Hà Nội. Quá trình anh chị chung sống không hạnh phúc, bất đồng quan điểm sống do mâu thuẫn về tính cách, hiện nay chị H đã chuyển đi nơi khác cùng hai con. Đối với việc chị H khai anh đánh chị thì do anh có lúc nóng tính nên giữa 02 vợ chồng xảy ra xô xát nhưng sau đó anh đã hối hận. Anh vẫn còn tình cảm với chị H nên không muốn ly hôn, đề nghị được đoàn tụ vợ chồng.
-Về con chung: anh chị có 02 con chung là cháu Dương Tú Q sinh ngày 03/8/2009 và cháu Dương Hoàng N sinh ngày 19/9/2013. Nếu ly hôn, anh T yêu cầu được nuôi cháu Dương Tú Q, chị H nuôi cháu Dương Hoàng N, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Nếu Tòa án giao cả hai con cho chị H nuôi, anh đề nghị cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho cả hai con vì hiện nay anh làm nghề shipper giao hàng, thu nhập không ổn định.
- Về tài sản chung, nhà ở: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của cháu Dương Tú Q và cháu Dương Hoàng N:
Trong đơn trình bày nguyện vọng, cháu Dương Tú Q trình bày cháu đã đủ 15 tuổi, đã lớn và hiểu chuyện. Trong thời gian bố mẹ cháu sống cùng nhau, cháu nhiều lần chứng kiến cảnh bố đi nhậu đánh đập mẹ, bố la hét, mắng chửi, 1, 2 giờ sáng vẫn gọi cháu ra mở cửa. Gần đây có việc bố cháu uống rượu, đánh liên tiếp vào chỗ hiểm của mẹ cháu khiến mẹ cháu phải nhập viện dù đã có hai chị em cháu, bà, chú thím can ngăn. Ba mẹ con cháu phải bỏ chạy sang nhà bác để trốn. Hiện tại cháu đang ở cùng với mẹ và em trai tại khu đô thị D, quận H. Cháu xin được ở với mẹ vì mẹ là người chăm sóc yêu thương cháu, đưa cháu đi học và bảo ban cháu.
Trong đơn trình bày nguyện vọng, cháu Dương Hoàng N trình bày thời gian bố mẹ cháu ở cùng nhau, bố thường xuyên uống bia rượu và về nhà rất muộn. Những lúc bố về nhà cháu thấy bố chửi, đánh mẹ. Sau nhiều lần bị bố đánh đập, mẹ cháu dã dọn đi và đưa hai chị em cháu đi cùng, không sống với bố nữa. Mẹ H là người chăm sóc cháu, đưa cháu đi học, bảo ban cháu. Từ khi bố mẹ không ở với nhau, bố không đến và cũng không gọi điện hỏi thăm, quan tâm cháu. Nếu bố mẹ ly hôn, cháu xin được ở với mẹ.
Gia đình anh Dương T do bà Đào Thị C - mẹ anh T đại diện cho biết:
Sau khi kết hôn, anh T và chị H có chung sống cùng bà tại số B ngách B, ngõ G đường L, phường D, quận H, TP Hà Nội. Quá trình chung sống anh chị thường xuyên cãi nhau, xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, xô xát, đánh nhau hàng ngày. Ngoài việc mâu thuẫn, xô xát, hai vợ chồng không chia sẻ, không thấu hiểu nhau, hiện nay chị T1 đã đưa hai con đi ở nơi khác từ cuối năm 2023, gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng không được. Gia đình mong muốn anh chị đoàn tụ để con có bố mẹ. Trường hợp chị H kiên quyết xin ly hôn, anh chị đã trưởng thành, tự anh chị giải quyết, về con chung: đề nghị vợ, chồng mỗi người nuôi một con, không ai phải cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung: vợ chồng anh chị không có tài sản chung.
Tại biên bản làm việc ngày 07 tháng 11 năm 2024, phòng Lao động thương binh và xã hội quận H cung cấp: theo hồ sơ tòa án thì anh Dương T và chị Trương Thị Hoa đăng K kết hôn ngày 28/7/2008 tại Ủy ban nhân dân phường D, quận H, TP Hà Nội. Anh T và chị H có 02 con chung là cháu Dương Tú Q sinh ngày 03/8/2009 và cháu Dương Hoàng N sinh ngày 19/9/2013. Phòng Lao động thương binh và xã hội quận H không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, đề nghị tòa án giải quyết theo pháp luật. Về nuôi con chung: trường hợp vụ án mà người chồng có dấu hiệu bạo lực gia đình, để đảm bảo quyền lợi cho các con, đề nghị Tòa án giải quyết căn cứ vào quy định của pháp luật.
Xác minh tại tổ dân phố, chính quyền địa phương phường D thể hiện: về mâu thuẫn vợ chồng: vợ chồng anh T và chị H sống không hạnh phúc, hay xích mích, việc anh T có đánh chị H hay không địa phương không nắm được vì không nhận được đơn thư trình báo. Về việc chị H xin ly hôn anh T: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Hiện nay, chị H đã chuyển đi nơi ở khác với hai con, chị H đi từ thời gian nào địa phương không nắm được. Về con chung: anh chị có 02 con chung, đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của hai cháu. Về nghề nghiệp, giờ làm việc, thu nhập của anh T: anh T làm nghề shipper giao hàng, làm công ty nào và thu nhập như nào địa phương không nắm được. Anh T thường đi làm từ sáng đến tối mới về nhà. Về tài sản chung, nợ chung: địa phương không nắm được.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Chị H có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, về cấp dưỡng nuôi con chung: trong trường hợp Tòa án giao cả hai con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị đồng ý mức cấp dưỡng anh T đề nghị là 3.000.000 đồng/tháng/02 con.
- Anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
+Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án. Các đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trương Thị H với anh Dương T. Về con chung: giao cháu Dương Tú Q, sinh ngày 03/8/2009 và cháu Dương Hoàng N, sinh ngày 19/9/2013 cho chị Trương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh Dương T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/con/tháng. Về tài sản, công nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trương Thị H có đơn xin ly hôn anh Dương T, anh T có địa chỉ cư trú tại tổ dân phố H, phường D, quận H, TP Hà Nội. Hiện ở: số B ngách B ngõ G đường L, phường D, quận H, TP Hà Nội, vì vậy Tòa án nhân dân quận Hà Đông giải quyết vụ án theo thẩm quyền quy định tại khoản 3 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị H:
Chị Trương Thị H và anh Dương T tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 28/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã D, TP H, tỉnh Hà Tây nay là phường D, quận H, TP Hà Nội, vì vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa chỉ số B ngách B, ngõ G đường L, phường D, quận H, TP Hà Nội. Quá trình anh chị chung sống không hạnh phúc, bất đồng quan điểm sống, xô xát, mâu thuẫn trầm trọng. Từ khoảng đầu năm 2024 đến nay, anh chị đã ly thân. Chị H chuyển đi nơi ở khác cùng 02 con. Anh chị không liên lạc với nhau, không quan tâm đến nhau. Nay, chị H kiên quyết xin ly hôn, anh T không muốn ly hôn nhưng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm với chị H.
Xét anh chị mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nguyện vọng ly hôn của chị H là chính đáng, cần chấp nhận.
-Về con chung: anh chị có 02 con chung là cháu Dương Tú Q và cháu Dương Hoàng N. Xét nguyện vọng nuôi con của hai anh chị:
Cháu Q và cháu N đều có ý kiến quá trình chung sống bố thường xuyên đánh chửi mẹ, không quan tâm, chăm sóc các cháu. Hai cháu đều có nguyện vọng xin ở với mẹ vì lý do mẹ là người quan tâm, chăm sóc các cháu. Xét: chị H, cháu Q, cháu N đều có lời khai về việc anh T có hành vi bạo lực gia đình, thường xuyên đánh chửi chị H, hay bia rượu, về khuya, không chăm sóc các con, chị H không có đơn trình báo cơ quan pháp luật vì nghĩ đến các con. Chị H cũng nộp theo các bản ảnh và tài liệu phản ánh việc chị bị đánh phải nhập viện. Anh T không thừa nhận việc đánh chửi chị H nhưng cũng thừa nhận lúc nóng tính, có xô xát với vợ, gia đình anh T xác nhận có việc hai vợ chồng đánh chửi nhau. Hiện nay, chị H có nghề nghiệp là kế toán tại công ty TNHH MTV S, mức lương chính trung bình là 23 triệu đồng/tháng, có căn hộ tại khu đô thị D, quận H, Hà Nội, thời gian làm việc theo giờ hành chính, anh T làm nghề shipper giao hàng, thu nhập không ổn định, thời gian đi làm đến tối muộn. Chị H đủ điều kiện nuôi hai con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho hai cháu, để hai cháu không bị ảnh hưởng bạo lực gia đình, phát triển bình thường về tâm sinh lý, cần giao hai cháu cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Anh T có ý kiến trường hợp Tòa án giao cả hai con cho chị H nuôi dưỡng thì anh cấp dưỡng nuôi hai con 3 triệu đồng/tháng. Xét: anh T làm nghề shipper giao hàng, thu nhập không ổn định, chị H chấp nhận anh T cấp dưỡng cho hai con 3 triệu đồng/tháng, vì vậy cần ghi nhận sự tự nguyện của chị H.
-Về tài sản chung, nợ chung: anh chị không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xét.
-Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 2 Điều 227 Điều 235, Điều 266, 271 272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trương Thị H đối với anh Dương T. Chị Trương Thị H được ly hôn anh Dương T.
- Về con chung: Chị Trương Thị H và anh Dương T có 02 con chung là cháu Dương Tú Q sinh ngày 03/8/2009 và cháu Dương Hoàng N sinh ngày 19/9/2013. Giao hai con chung là cháu Dương Tú Q và cháu Dương Hoàng N cho chị Trương Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 03 triệu đồng/tháng (cho cả hai con) cho đến khi con chung tròn 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Dương T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị H và anh Dương T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
2. Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0043839 ngày 31/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, chị Trương Thị H đã nộp đủ án phí. Anh Dương T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Dương T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 64/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 64/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoa-Thỏa
