Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2025/DS-PT

Ngày: 22-01-2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng thuê

tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang;

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Ngọt;

Ông Lê Văn Phận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Phấn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 462/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4817/2024/QĐXXPT-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5119/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Bà Lê Thị Giang N, sinh năm 1986;

    Địa chỉ: Số A, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo văn bản ủy quyền ngày 17/10/2023):

    • Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1998; (có mặt)

      Nơi thường trú: Số D, ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    • - Ông Võ Thanh D, sinh năm 1992; (có mặt)

      Nơi cư trú: 03G, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    Cùng địa chỉ liên hệ: Số C, đường Đ, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

  2. Bị đơn:

    • - Ông Lữ Văn M, sinh năm 1979; (Có mặt)

    • - Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1984;

    Cùng địa chỉ: Số F, Khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N1 (theo văn bản ủy quyền ngày 13/8/2024):

    Ông Lữ Văn M, sinh năm 1979; (Có mặt)

    Địa chỉ: Số F, Khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

  3. Người làm chứng do nguyên đơn tự mời:

    Ông Huỳnh Hoàng H1, sinh năm 1990; (có mặt)

    Nơi thường trú: Khóm C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau;

    Nơi ở hiện tại: D Hồ N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Người kháng cáo:

    Bà Nguyễn Thị Thu H, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Giang N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm,

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Giang N là bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Trước đây, do có nhu cầu thuê nhà đất để phục vụ cho việc làm ăn kinh doanh nên ngày 31/5/2023 bà có thỏa thuận và ký kết Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với vợ chồng ông Lữ Văn M và bà Nguyễn Thị N1, hợp đồng công chứng số 690, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, đối với các thửa đất cụ thể như sau:

  • - Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 21 tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre;

  • - Thửa đất số 196, tờ bản đồ số 11 tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre;

  • - Tài sản gắn liền trên đất: căn nhà cấp 04 gắn liền trên đất.

Theo đó, hai bên thỏa thuận việc thuê quyền sử dụng đất này có thời hạn là 03 (ba) năm kể từ ngày 01/6/2023 đến ngày 31/5/2026.

Tuy nhiên, đến đầu tháng 10/2023, vợ chồng ông M và bà N1 thông báo với bà rằng muốn chấm dứt hợp đồng thuê do không còn nhu cầu cho thuê nữa. Vợ chồng ông M, bà N1 đồng ý sẽ bồi thường cho bà do việc chấm dứt Hợp đồng thuê trước thời hạn với số tiền là 140.000.000 đồng.

Đến ngày 11/10/2023, bà N và vợ chồng ông M, bà N1 có đến Văn phòng công chứng Nguyễn Hữu T để ký kết vào Văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất công chứng số 1982, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/10/2023.

Cùng ngày hôm đó, ông M có đưa cho bà N 50% số tiền bồi thường là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) và hứa 50% số tiền còn lại là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) sẽ giao đủ vào ngày 13/10/2023.

Tuy nhiên, đến hạn trả tiền là ngày 13/10/2023, khi bà N liên hệ để yêu cầu trả tiền thì vợ chồng ông M, bà N1 luôn tìm lý do để trì hoãn, kéo dài không chịu trả tiền. Điều này đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.

Vì vậy, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Buộc vợ chồng ông Lữ Văn M và bà Nguyễn Thị N1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền bồi thường hợp đồng còn lại chưa thanh toán là 70.000.000 đồng.

  • - Buộc vợ chồng ông Lữ Văn M và bà Nguyễn Thị N1 phải có trách nhiệm trả tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với khoản tiền trên. Với thời gian chậm trả tính từ ngày 13/10/2020 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm, lãi suất 10%/năm, tương đương 0,83%/tháng. Số tiền lãi chậm trả mà ông M và bà N1 phải trả là 5.810.000 đồng.

Tổng số tiền gốc và lãi chậm trả mà vợ chồng ông M, bà N1 phải trả cho bà N, tạm tính số tiền là 75.810.000 đồng.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Lữ Văn M, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị N1 trình bày:

Ngày 31/5/2023, vợ chồng ông có ký Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với bà Lê Thị Giang N. Theo hợp đồng, ông và bà N1 cho bà N thuê tài sản là thửa đất số 22 tờ bản đồ số 21 và thửa 196 tờ bản đồ số 11, cùng tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre cùng căn nhà cấp 4 cất trên đất.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, bà N không thực hiện đúng thỏa thuận về việc thanh toán tiền thuê (vi phạm khoản 1 Điều 5 của Hợp đồng), cụ thể số tiền trả không đủ và trả không đúng thời hạn nên vợ chồng ông và bà N đã thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất vào ngày 11/10/2023. Văn bản thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất lập ngày 11/10/2023 được công chứng tại Văn phòng C1.

Theo thỏa thuận, vợ chồng ông có trách nhiệm đền bù tiền hợp đồng 48.000.000 đồng và tiền hỗ trợ di dời 22.000.000 đồng, tổng cộng 70.000.000 đồng. Ngày 11/10/2023, ông đã giao cho bà N số tiền 70.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Ông đã thực hiện xong trách nhiệm của mình.

Đối với Văn bản thỏa thuận ngày 11/10/2023, ông thừa nhận có ký tên vào văn bản này nhưng khi ký ông đã không xem kỹ nội dung, ông nghĩ rằng mỗi bên chịu 50% trách nhiệm là 70.000.000 đồng nên ông đã giao cho bà N 70.000.000 đồng. Do tin tưởng nên ông đã ký tên vào văn bản này nhưng nội dung không đúng như hai bên đã thỏa thuận.

Hai bên thỏa thuận bà N phải chịu trách nhiệm di dời tài sản, trả nhà và đất lại cho ông vào ngày 11/10/2023. Ngày 11/10/2023, ông có yêu cầu bà N giao chìa khóa nhà nhưng bà N có xin vài ngày để di dời, do lúc đó bà N vẫn còn một số tài sản chưa di dời và ông có đồng ý.

Sau đó, ông có nhiều lần liên hệ với bà N để yêu cầu trả nhà và giao chìa khóa cho ông nhưng bà N không thực hiện.

Cụ thể, ngày 21/10/2023 ông có nhờ người chụp ảnh lại căn nhà bà N thuê, hiện trạng vẫn đang khóa cửa, các bảng hiệu của bà N vẫn còn. Và cho đến hiện tại, hiện trạng căn nhà vẫn đóng cửa, bảng hiệu của bà N vẫn còn và các tài sản trong nhà còn hay không thì ông không biết do cửa nhà là cửa tự động và bà N giữ cả 02 chìa khóa, không giao lại cho ông.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông M, bà N1 trả lại số tiền 70.000.000 đồng, ông không đồng ý. Vì ông đã thực hiện việc bồi thường rồi.

Ông Mến yêu C phản tố: yêu cầu bà N trả nhà và giao chìa khóa nhà cho ông; yêu cầu bà N thanh toán cho ông tiền thuê nhà kể từ ngày chấm dứt hợp đồng (sau ngày 11/10/2023) mỗi tháng 12.000.000 đồng cho đến ngày vụ án được xét xử xơ thẩm, số tiền tạm tính đến nay là 10 tháng với số tiền 120.000.000 đồng. Ông không yêu cầu tính lãi số tiền này.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tuyên:

Căn cứ các điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 131, 132 Luật nhà ở năm 2014; các điều 357, 422, 427, 428, 472, 482, 683 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Giang N. Buộc bị đơn ông Lữ Văn M và bà Nguyễn Thị N1 chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà N số tiền 75.810.000 đồng.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lữ Văn M, buộc bà Lê Thị Giang N trả chìa khóa căn nhà cất trên thửa đất số 22 tờ bản đồ số 21 và thửa 196 tờ bản đồ số 11 cùng tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

  3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lữ Văn M. Buộc bà Lê Thị Giang N bồi thường cho ông Lữ Văn M số tiền 60.000.000 đồng.

  4. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lữ Văn M về việc yêu cầu bà Lê Thị Giang N bồi thường cho ông Lữ Văn M số tiền 60.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/8/2024, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Giang N là bà Nguyễn Thị Thu H có đơn kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Võ Thanh D và bà Nguyễn Thị Thu H cùng trình bày: Kháng cáo đối với một phần bản án dân sự sơ thẩm về việc buộc bà Lê Thị Giang N trả chìa khóa căn nhà cất trên thửa đất số 22, tờ bản đồ số 21 và thửa đất số 196, tờ bản đồ số 11, cùng tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre và bồi thường cho ông Lữ Văn M số tiền 60.000.000 đồng; yêu cầu toà án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lữ Văn M.

Bị đơn ông Lữ Văn M không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đồng ý với bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.

  • - Về nội dung: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Lê Thị Giang N; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng; xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

Bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung như sau: Buộc vợ chồng ông Lữ Văn M và bà Nguyễn Thị N1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền bồi thường hợp đồng còn lại chưa thanh toán là 70.000.000 đồng. Buộc vợ chồng ông Lữ Văn M và bà Nguyễn Thị N1 phải có trách nhiệm trả tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với khoản tiền trên. Với thời gian chậm trả tính từ ngày 13/10/2020 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm, lãi suất 10%/năm, tương đương 0,83%/tháng. Số tiền lãi chậm trả mà ông M và bà N1 phải trả là 5.810.000 đồng.

Ông Mến yêu C phản tố các nội dung như sau: Yêu cầu bà N trả nhà và giao chìa khóa nhà cho ông; yêu cầu bà N thanh toán cho ông tiền thuê nhà từ ngày chấm dứt hợp đồng (sau ngày 11/10/2023) cho đến ngày vụ án được xét xử sơ thẩm mỗi tháng là 12.000.000 đồng, tạm tính đến nay (10 tháng) số tiền là 120.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi số tiền này.

Xét kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Ngày 31/5/2023, bà N ký Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất công chứng số 690, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Nguyễn Hữu T để thuê phần nhà, đất của ông M và bà N1 tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 21, thửa đất số 196, tờ bản đồ số 11, cùng địa chỉ: phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre cùng căn nhà cấp 4 trên đất. Quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên thống nhất chấm dứt hợp đồng thuê trước hạn, đã ký Văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 11/10/2023, số công chứng 1982, tại Văn phòng C1 và Văn bản thỏa thuận ngày 11/10/2023 (không có công chứng, chứng thực). Xét việc các bên thống nhất chấm dứt hợp đồng thuê trước hạn là hoàn toàn tự nguyện, văn bản thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất được công chứng, chứng thực đúng quy định nên việc chấm dứt hợp đồng của các bên là phù hợp và có giá trị pháp lý.

Tại Văn bản thỏa thuận ngày 11/10/2023 được các bên thừa nhận đã ký có nội dung: “Bên B có trách nhiệm di dời nhà và bàn giao đất, mặt bằng lại cho bên A vào ngày 15/10/2023”. Tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn bà N cho rằng đã giao chìa khóa nhà và trả nhà cho bị đơn ông M vào ngày 15/10/2023 đúng thỏa thuận và chính ông M là người nhận chìa khóa nhưng ông M không thừa nhận điều này. Bà N cho rằng ông M phải có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình. Về nội dung này, xét thấy theo quy định, đương sự có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ. Ông M cho rằng bà N chưa thực hiện bàn giao nhà và chìa khóa nhà do không có biên bản bàn giao nhà giữa các bên, bà N không đồng ý nên bà N có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ nhằm phản bác lời trình bày của ông M. Tuy nhiên, bà N không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình, trong hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ nào cho thấy việc bàn giao nhà và chìa khóa nhà đã được các bên thực hiện xong.

Qua xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án, kết quả cho thấy bảng hiệu của bà N vẫn còn tại thửa đất của ông M và xác minh người xung quanh thì được cung cấp thông tin rằng bà N có mở cửa bán hoa vào ngày 14/2/2024, 08/3/2024. Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án có chữ ký của các bên đương sự và chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương. Tại phiên tòa, phía bà N cho rằng việc bảng hiệu vẫn còn tại thửa đất của ông M là do các bên thỏa thuận theo Biên bản thỏa thuận viết tay ngày 10/10/2023 (bút lục 61) có nội dung: “bàn giao để cửa kính, vách ngăn, bảng hiệu, khóa...”, giá trị bảng hiệu đã nằm trong số tiền 140.000.000 đồng mà ông M phải trả cho bà N (trong đó 48.000.000 đồng đền bù tiền hợp đồng và 92.000.000 đồng tiền hỗ trợ) nên bà N bàn giao nhà và để lại bảng hiệu cho ông M. Tuy nhiên, ông M không thừa nhận Biên bản thỏa thuận viết tay ngày 10/10/2023, ông khẳng định không biết và không có ký tên Biên bản thỏa thuận ngày 10/10/2023. Bà N cho rằng chữ ký tại Biên bản thỏa thuận ngày 10/10/2023 là do ông M ký, ghi họ tên nhưng không cung cấp được bản chính của Biên bản thỏa thuận. Hội đồng xét xử xét thấy, Biên bản thỏa thuận viết tay ngày 10/10/2023 do bà N cung cấp chỉ là bản phô tô và ông M không thừa nhận nên biên bản không có giá trị pháp lý, không được xem là chứng cứ hợp pháp theo quy định, lời trình bày của bà N là không có cơ sở.

Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bà N cung cấp chứng cứ mới là Hợp đồng thuê nhà ngày 14/10/2023 ký giữa ông Lữ Văn M và ông Huỳnh Hoàng H1 (không có công chứng, chứng thực) trong đó có nội dung tại khoản 4.2 Điều 4 về quyền và nghĩa vụ của bên A (bên cho thuê): “4.2. Bàn giao Diện tích thuê nhà, chìa khoá nhà (02), Cửa kiếng, Bảng hiệu, V ngăn cho Bên B đúng thời hạn hai bên đã thoả thuận tại Điều 2 của Hợp đồng này”, để chứng minh bà N đã bàn giao nhà, bảng hiệu và chìa khoá nhà cho ông M xong nên ngày 14/10/2023 ông M mới tiếp tục ký hợp đồng thuê nhà với ông H1. Ông M khẳng định có ký hợp đồng thuê nhà với ông H1 vào ngày 14/10/2023 nhưng sau đó do bà N không bàn giao mặt bằng và chìa khoá nhà cho ông nên hợp đồng không thực hiện được, việc bàn giao bảng hiệu, vách ngăn, cửa kiếng cho ông H1 theo khoản 4.2 Điều 4 của hợp đồng không phải bảng hiệu, vách ngăn, cửa kiếng của bà N. Ông H1 cũng xác định các bên chưa bàn giao nhà cho thuê và ông H1 không thuê nhà nữa. Hợp đồng thuê nhà ngày 14/10/2023 đã không được thực hiện. Do đó, căn cứ vào hợp đồng thuê nhà giữa ông M và ông H1 thì không đủ cơ sở để chứng minh bà N đã hoàn thành việc bàn giao nhà và chìa khoá nhà cho ông M.

Từ các nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định ông M yêu cầu bà N giao trả nhà và chìa khóa nhà là có cơ sở.

[2.2] Đối với việc thanh toán tiền thuê nhà từ khi chấm dứt hợp đồng, do các bên đã tự nguyện thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê nên không phát sinh tiền thuê nhà kể từ khi chấm dứt hợp đồng. Mặc dù hợp đồng đã chấm dứt nhưng các bên có thoả thuận về nghĩa vụ của các bên sau khi chấm dứt hợp đồng tại Văn bản thỏa thuận ngày 11/10/2023, cụ thể ông M phải trả cho bà N số tiền 140.000.000 đồng (trong đó số tiền đã giao 70.000.000 đồng, còn lại là 70.000.000 đồng giao vào ngày 13/10/2023) và bà N phải bàn giao mặt bằng cho ông M vào ngày 15/10/2023. Tuy nhiên, thực tế các bên thực hiện không đúng thoả thuận sau khi chấm dứt hợp đồng, cụ thể ông M vi phạm thời gian giao trả số tiền 70.000.000 đồng còn lại cho bà N và bà N không thực hiện giao trả nhà và chìa khoá nhà cho ông M, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các bên nên mỗi bên đương sự đều có một phần lỗi. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông M yêu cầu bà N phải có trách nhiệm bồi thường tiền thuê nhà từ ngày chấm dứt hợp đồng (sau ngày 11/10/2023) cho đến ngày vụ án được xét xử sơ thẩm. Căn cứ quy định tại Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015, người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại, trường hợp tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê thì ông M sẽ nhận được lợi ích là tiền thuê mỗi tháng, trường hợp sau khi chấm dứt hợp đồng mà bà N bàn giao lại tài sản cho ông M thì ông M có thể tiếp tục khai thác sử dụng tài sản để thu lợi, cụ thể là Hợp đồng thuê nhà ngày 14/10/2023 ký giữa ông M và ông H1 do phía nguyên đơn cung cấp và được các bên đều thừa nhận thì giá thuê là 9.500.000 đồng/tháng, đây là khoản thu lợi mà ông M sẽ nhận được nếu hợp đồng thuê nhà giữa ông M và ông H1 được thực hiện, nên xét thấy thiệt hại của ông M đối với việc bà N không bàn giao nhà và chìa khóa nhà cho ông là có xảy ra. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu bồi thường tiền thuê nhà của ông M là có cơ sở. Do mỗi bên đều có lỗi nên bà N chỉ phải chịu 50% trách nhiệm đối với thiệt hại của ông M, giá trị thiệt hại thực tế xảy ra là 9.500.000 đồng/tháng nên cần xem xét số tiền bồi thường dựa trên giá trị này, cụ thể là: 9.500.000 đồng/tháng x 10 tháng x 50% = 47.500.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N có trách nhiệm bồi thường cho ông M số tiền 60.000.000 đồng là chưa phù hợp với thiệt hại xảy ra. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc bà N có trách nhiệm bồi thường cho ông M số tiền là 47.500.000 đồng.

[3] Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là có cơ sở một phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.

[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà N phải có trách nhiệm bồi thường cho ông M số tiền 47.500.000 đồng nên bà N phải chịu án phí là 2.375.000 đồng.

Ông M, bà N1 phải liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận là 3.790.500 đồng.

Đối với một phần yêu cầu phản tố của ông M không được chấp nhận về việc yêu cầu bà N bồi thường số tiền 72.500.000 đồng, ông M phải chịu án phí là 3.625.000 đồng.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của người kháng cáo được chấp nhận một phần nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Giang N.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ vào các điều 357, 422, 427, 428, 472, 482, 683 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 131, 132 Luật Nhà ở năm 2014; Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào các điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Giang N.

    Buộc bị đơn ông Lữ Văn M và bà Nguyễn Thị N1 chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Thị Giang N số tiền là 75.810.000đ (bảy mươi lăm triệu tám trăm mười nghìn đồng).

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lữ Văn M.

    Buộc bà Lê Thị Giang N giao trả nhà và chìa khóa căn nhà cất trên thửa đất số 22, tờ bản đồ số 21 và thửa đất số 196, tờ bản đồ số 11, cùng tọa lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre cho ông Lữ Văn M.

    Buộc bà Lê Thị Giang N bồi thường cho ông Lữ Văn M số tiền là 47.500.000đ (bốn mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lữ Văn M về việc yêu cầu bà Lê Thị Giang N bồi thường cho ông Lữ Văn M số tiền 72.500.000đ (bảy mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).

  4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Lữ Văn M và bà Nguyễn Thị N1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.790.500đ (ba triệu bảy trăm chín mươi nghìn năm trăm đồng).

    Ông Lữ Văn M phải chịu án phí đối với một phần yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 3.625.000đ (ba triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004315 ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Ông Lữ Văn M phải tiếp tục nộp án phí số tiền là 1.825.000đ (một triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

    Bà Lê Thị Giang N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.375.000đ (hai triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Tổng cộng bà Lê Thị Giang N phải chịu án phí là 2.675.000đ (hai triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.765.000đ (một triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000833 ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Bà Lê Thị Giang N phải tiếp tục nộp án phí là 910.000đ (chín trăm mười nghìn đồng).

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Lê Thị Giang N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà Lê Thị Giang N được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002797 ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;

  • - VKSND tỉnh Bến Tre;

  • - TAND TP.Bến Tre;

  • - Chi cục THADS TP.Bến Tre;

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;

  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2025/DS-PT ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

  • Số bản án: 64/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chap hop dong thue tai san giua Le Thi Giang N va Lu Van M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger