|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày 16/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiểm.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tâm;
- Ông Trần Tô Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Khánh Luyện - Kiểm sát viên.
Ngày 16/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST- HS ngày 13/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST- HS ngày 04/12/2024 đối với các bị cáo:
1.Họ và tên: Phạm Xuân N (Không có tên gọi khác). Sinh ngày 26/3/1959 tại huyện Ý, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân A và bà Nguyễn Thị R (đã chết); có vợ là Đào Thị T, sinh năm: 1966 và 03 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ - XPVPHC ngày 01/02/2019, của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Phạm Xuân N: 1.000.000 đồng về hành vi “ Đánh bạc”.
- - Tại Bản án số 26/2019/HSST ngày 16/07/2019, của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Phạm Xuân N 06 tháng tù về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/09/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà giữ Công an huyện Đ. Có mặt.
2. Họ và tên: Diệp Đình C. (Không có tên gọi khác). Sinh ngày 10/02/1971 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 06/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Diệp Đình K (đã chết) và bà Mã Thị T1 (đã chết); có vợ là Lê Thị H, sinh năm: 1978 và 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/9/2024 đến ngày 13/9/2024, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
3. Họ và tên: Ma Thị T2 (Không có tên gọi khác). Sinh ngày 27/5/1970 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Duy C1 (đã chết) và bà Trần Thị L; chồng: Diệp Đình C2, sinh năm: 1967 và 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ 04/9/2024 đến ngày 13/9/2024, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
4. Họ và tên: Mã Doãn T3 (Không có tên gọi khác). Sinh ngày 26/12/1984 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Doãn C3 (đã chết) và bà Ma Thị D; vợ: Mông Thị Đ, sinh năm: 1990 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/9/2024 đến ngày 13/9/2024, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
5. Họ và tên: Nông Đình T4 (Không có tên gọi khác). Sinh ngày 03/01/1980 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Đình L1 và bà Hạc Thị N1; vợ: Nguyễn Thị T5, sinh năm: 1984, và 02con, con lớn sinh năm 2001, co nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/9/2024 đến ngày 13/9/2024, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
6. Họ và tên: Ma Đình C4 (Không có tên gọi khác). Sinh ngày 17/5/1973 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Đình Đ1 (đã chết) và bà Ma Thị T6 (đã chết); vợ: Ma Thị N2, sinh năm: 1976 và 01con, sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/9/2024 đến ngày 13/9/2024, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Ma Doãn T7: Bà Nguyễn Thị D1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Diệp Đình C2, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Phạm Xuân N3, sinh năm 1990. Nơi cư trú:Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- - Người chứng kiến: Bà Cao Thị H1, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 04/09/2024, tổ công tác của Công an huyện Đ nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ở của ông Diệp Đình C2 và bà Ma Thị T2 có các đối tượng đang tụ tập có biểu hiện liên quan đến việc đánh bạc nên đã tiến hành kiểm tra, khi kiểm tra đã phát hiện tại phòng khách nhà ở của ông C2 và bà T2 có 06 đối tượng gồm: Ma Doãn T7, Diệp Đình C, Ma Thị T2, Phạm Xuân N, Ma Đình C4 và Nông Đình T4 đang đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh L2.
Vật chứng thu giữ gồm: Tiền Ngân hàng N4 5.060.000 đồng và 52 quân bài tú lơ khơ trên mặt thảm nơi các đối tượng ngồi đánh bạc; 01 tấm thảm nhiều màu sắc có kích thước 174cm x 205cm là thảm mà các đối tượng sử dụng để ngồi đánh bạc; Tiền Ngân hàng N4 18.500.000 đồng thu giữ tại túi quần phía sau bên trái của Phạm Xuân N; Tiền Ngân hàng N4 3.700.000 đồng thu giữ tại túi quần trước bên phải của Diệp Đình C.
Ngoài ra, còn thu giữ của Diệp Đình C 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A50 màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu trắng đen, biển kiểm soát 20F5-7120; Thu giữ của Nông Đình T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2029 màu xanh tím than; Thu giữ của Ma Thị T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu hồng; Thu giữ của Ma Doãn T7 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A20s màu đen; Thu giữ của Ma Đình C4 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 20C1-233.53; Thu giữ của Phạm Xuân N 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter GP màu xanh, biển kiểm soát 20C1-193.98.
Quá trình điều tra xác định được như sau: Khoảng 14 giờ ngày 04/09/2024, Ma Doãn T7 và Nông Đình T4 đến nhà Ma Thị T2 ngồi chơi, uống nước sau đó cùng nảy sinh ý định đánh bài bằng hình thức đánh Liêng, cá cược nhau bằng tiền, T7 liền lấy 01 tấm thảm trên ghế ngồi giải xuống nền nhà, T2 lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài trên kệ tủ ti vi trong phòng khách rồi 03 người cùng nhau ngồi xuống thảm để đánh bạc. T7, T4 và T2 đánh bạc được một lúc thì Diệp Đình C đến sau đó là Ma Đình C4 đến, tiếp theo là Phạm Xuân N đến và cùng tham gia đánh bạc.
Dụng cụ dùng để đánh bạc là bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài. Khi bắt đầu chơi sẽ có 01 người cầm chương, người này chia cho mỗi người chơi 03 lá bài ngẫu nhiên. Trước khi chia bài, mỗi người chơi sẽ đặt cược với số tiền 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) gọi là “góp G”. Sau khi lật bài (người chơi tự xem bài của mình), người chia bài sẽ là người tố đầu tiên, người tiếp theo có thể úp bài (nếu như xác định bài của mình thấp) hoặc tố theo người trước với số tiền bằng với số tiền của người trước và có thể tố thêm, mức cược tiền khi tố thấp nhất là 20.000 đồng và cao nhất là 200.000 đồng. Kết thúc ván bài là khi chỉ còn một người không úp bỏ, hoặc không ai trên bàn tố thêm tiền nữa. Nếu chỉ còn một người theo bài để đánh thì người này sẽ là người thắng. Nếu có hơn một người vẫn còn chơi thì sẽ tiến hành so bài những người này để tìm người thắng. Việc so bài được tính theo thứ tự từ lớn đến bé gồm: Sáp lớn nhất: Ba quân bài có số giống nhau. Nếu 2 người chơi cùng được sáp sẽ so sánh giá trị quân bài theo thứ tự 2 < 3 < ... < K < A (Bộ S1 sẽ là bộ to nhất). Liêng: Là bộ bài có 3 quân liên tiếp nhau không cần cùng chất, nếu cùng là liêng thì cũng so sánh giá trị quân bài lớn nhất như sáp. Nếu bộ bài không phải là S hoặc L2, nhưng tất cả 3 quân đều là đầu người (J, Q, K) thì gọi là Đ2. Không phải S, L2, Đ2, người chơi sẽ cộng giá trị các quân trong bài để tính điểm. Sau khi kết thúc ván, người chơi không bỏ bài nào hoặc có bộ bài mang giá trị cao nhất sẽ là người thắng cuộc và được tiền.
Các bị cáo khai khi tham gia đánh bạc, các bị cáo mang theo và sử dụng số tiền vào việc đánh bạc như sau: Diệp Đình C khai mang theo số tiền 6.200.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, khi đánh bạc C mới bỏ xuống thảm số tiền 2.500.000 đồng, còn lại số tiền 3.700.000 đồng, C để ở trong túi quần trước bên phải. Ma Đình C4 khai khi tham gia đánh bạc có số tiền khoảng 50.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, khi đánh C4 để toàn bộ số tiền này trên thảm; Ma Doãn T7 khai khi đánh bạc có mang theo số tiền khoảng 500.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, khi đánh T7 để toàn bộ số tiền này trên thảm; Ma Thị T2 khai khi đánh bạc mang theo số tiền khoảng 500.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, khi đánh T2 để toàn bộ số tiền này trên thảm; Nông Đình T4 khai khi đánh bạc có mang theo số tiền khoảng 800.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc, khi đánh T4 để toàn bộ số tiền này trên thảm; Phạm Xuân N khai khi đánh bạc N sử dụng số số tiền khoảng 500.000 đồng - 600.000 đồng để trong ví để đánh bạc còn 18.500.000 đồng, N để tại túi quần phía sau bên trái là tiền để mua bán hàng tạp hóa, không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ cùng ngày, thì bị tổ công tác của Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang bắt giữ các đối tượng và thu giữ vật chứng cùng các tài sản như đã nêu ở trên.
Sau khi điều tra làm rõ cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A50 màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu trắng đen, biển kiểm soát 20F5-7120 cho Diệp Đình C; trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2029 màu xanh tím than cho Nông Đình T4; trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu hồng cho Ma Thị T2; trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A20s màu đen cho Ma Doãn T7 và trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 20C1-233.53 cho Ma Đình C4.
Vật chứng vụ án gồm: Tiền Ngân hàng N4 thu giữ trên chiếu bạc (thảm) và trên người các đối tượng đánh bạc là 27.260.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; 01 chiếc thảm nhiều màu đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter GP màu xanh, biển kiểm soát 20C1-193.98, đã qua sử dụng.
Cáo trạng số: 63/CT- VKS ngày 12/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Phạm Xuân N, Diệp Đình C, Ma Thị T2, Ma Doãn T7, Nông Đình T4 và Ma Đình C4 về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa đã nêu. Các bị cáo khai trong quá trình điều tra các bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình. Các bị cáo biết hành vi đánh bạc của mình là vi phạm pháp luật, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa truy tố về tội đánh bạc là không oan, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, các bị cáo đã thành khẩn khai báo.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Phạm Xuân N, Diệp Đình C, Ma Thị T2, Ma Doãn T7, Nông Đình T4 và Ma Đình C4 phạm tội: “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân N từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/9/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Ma Thị T2 và bị cáo Diệp Đình C mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù cho hương án treo, thời gian thủ thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
- Xử phạt các bị cáo Ma Doãn T7, bị cáo Nông Đình T4 và bị cáo Ma Đình C4 mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù cho hương án treo, thời gian thủ thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
- Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- - Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung các bị cáo Phạm Xuân N, Diệp Đình C, Ma Thị T2, Nông Đình T4 và Ma Đình C4 mỗi bị cáo từ 10 triệu đến 15 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo Ma Doãn T7 thuộc hộ nghèo nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; 01 chiếc thảm nhiều màu đã qua sử dụng;
- - Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 8.760.000 đồng (tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) các bị cáo dùng đánh bạc.
- - Tạm giữ số tiền 18.500.000 đồng (mười tám triệu năm trăm nghìn đồng) của Phạm Xuân N để đảm bảo thi hành án, số còn lại hoàn trả cho bị cáo.
- - Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh, biển kiểm soát 20C1-193.98, xe cũ, số khung RLCU0610HY397265, số máy G3D4E426380 cho Phạm Xuân N3 là chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo Phạm Xuân N, Diệp Đình C, Ma Thị T2, Nông Đình T4 và Ma Đình C4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ma Doãn T7 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bản án.
Phần tranh luận: Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Ma Doãn T7: Nhất trí với Cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá về tội danh, về điều luật áp dụng, đề nghị về mức hình phạt chính, về miễn hình phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phạt chính đối với bị cáo vói mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh, điều luật truy tố: Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để khẳng định:
Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 15 giờ ngày 04/09/2024, tại nhà ở của Diệp Đình C2 và Ma Thị T2 thuộc xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, các bị cáo Ma Thị T2, Ma Doãn T7, Diệp Đình C, Nông Đình T4, Phạm Xuân N và Ma Đình C4 đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh Liêng sát phạt nhau bằng tiền. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ cùng ngày, thì bị tổ công tác của Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang bắt giữ các đối tượng và thu giữ các vật chứng nêu trên.
Tổng số tiền các bị cáo N, C, T2, T7, T4 và C4 dùng vào việc đánh bạc là 8.760.000 đồng (tám triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
Hành vi của các bị cáo Phạm Xuân N, Diệp Đình C, Ma Thị T2, Ma Doãn T7, Nông Đình T4 và Ma Đình C5 đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định.
Điều 321. Tội đánh bạc.
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
...
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng triệu đồng”.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo phạm tội là đồng phạm giản đơn, cùng chịu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Trong vụ án này, bị cáo Phạm Xuân N có nhân thân xấu, năm 2019 đã bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; bị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội đánh bạc, nay tiếp tục phạm tội đánh bạc. Đối với các bị cáo Diệp Đình C, Ma Thị T2, Ma Doãn T7, Nông Đình T4 và Ma Đình C4 các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Ma Thị T2, Ma Đình C4, Diệp Đình C, Ma Doãn T7 và Nông Đình T4 “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đều “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên các bị cáo đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Xuân N được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:
Về hình phạt chính: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự đối với bị cáo, nhân thân của bị cáo thấy:
Đối với bị cáo Phạm Xuân N, bị cáo chỉ được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân xấu, năm 2019 đã bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; bị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội đánh bạc. Với mức xử phạt nghiêm khắc như vậy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân lương thiện, nay tiếp tục phạm tội đánh bạc, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung trong xã hội một thời gian để tập trung cải tạo mới có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
Đối với các bị cáo Diệp Đình C, Ma Thị T2, Ma Doãn T7, Nông Đình T4 và Ma Đình C4 đều có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, với mức án nghiêm khắc, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để các bị cáo tự cải tạo bản thân trỏ thành người công dân tốt. Trong vụ án này bị cáo Ma Thị T2 là chủ nhà để cho các bị cáo sử dụng nhà ở của mình làm địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, công cụ, phương tiện phạm tội là của bị cáo; bị cáo Diệp Đình C sử dụng số tiền đánh bạc nhiều hơn các bị cáo khác nên bị cáo T2 và bị cáo C phải chịu hình phạt nặng hơn các bị cáo khác.
Về hình phạt bổ sung: Mục đích của các bị cáo đánh bạc nhằm sát phạt nhau bằng tiền, thu lời bất chính nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên đối vói bị cáo Ma Doãn T7, bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối vói bị cáo.
[7] Về tài sản tạm giữ và vật chứng của vụ án:
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu theo quy định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A50 màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu trắng đen, biển kiểm soát 20F5-7120 cho Diệp Đình C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2029 màu xanh tím than cho Nông Đình T4; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu hồng cho Ma Thị T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A20s màu đen cho Ma Doãn T7 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 20C1-233.53 cho Ma Đình C4.
Tài sản, vật chứng còn lại:
- - 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài đã qua sử dụng; 01 tấm thảm nhiều màu sắc có kích thước khoảng 174cm x 205 cm đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy.
- - Số tiền 8.760.000 đồng (tám triệu bảy trăm sau mươi nghìn đồng) là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước Nhà nước.
- - Số tiền 18.500.000 đồng (mười tám triệu năm trăm nghìn đồng) của Phạm Xuân N không sử dụng vào việc đánh bạc cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án, số tiền còn lại hoàn trả cho bị cáo.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh, biển kiểm soát 20C1-193.98, đã qua sử dụng có số khung RLCU0610HY397265, số máy G3D4E426380 là xe tạm giữ của bị cáo N không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho Phạm Xuân N3 - là chủ sở hữu quản lý, sử dụng
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Xuân N, Diệp Đình C, Ma Thị T2, Nông Đình T4 và Ma Đình C4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ma Doãn Tư . Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với từng bị cáo, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Xuân N, Diệp Đình C, Ma Thị T2, Ma Doãn T7, Nông Đình T4 và Ma Đình C4 phạm tội “Đánh bạc”.
1.Về hình phạt:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/9/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ma Thị T2 09 (chín) tháng tù cho hương án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Ma Thị T2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Diệp Đình C 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Diệp Đình C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Ma Doãn T7 06 (sáu) tháng tù cho hương án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo Ma Doãn T7 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị áo Nông Đình T4 06 (sáu) tháng tù cho hương án treo, thời gian thủ thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo Nông Đình T4 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Ma Đình C4 06 (sáu) tháng tù cho hương án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Ma Đình C4 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung các bị cáo Phạm Xuân N, Diệp Đình C, Ma Thị T2, Nông Đình T4 và Ma Đình C4 mỗi bị cáo 10.000.000 triệu đồng sung ngân sách nhà nước. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Ma Doãn Tư .
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- -Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài đã qua sử dụng; tấm thảm nhiều màu sắc có kích thước khoảng 174cm x 205 cm đã qua sử dụng..
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 8.760.000 đồng (tám triệu bảy trăm sau mươi nghìn đồng)là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc.
- - Tạm giữ số tiền 18.500.000 đồng (mười tám triệu năm trăm nghìn đồng) của Phạm Xuân N để đảm bảo thi hành án, số còn lại hoàn trả cho bị cáo.
- - Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh, biển kiểm soát 20C1-193.98, đã qua sử dụng có số khung RLCU0610HY397265, số máy G3D4E426380 cho Phạm Xuân N3 là chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Phạm Xuân N, Diệp Đình C, Ma Thị T2, Nông Đình T4 và Ma Đình C4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ma Doãn Tư.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Kiểm |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN về đánh bạc
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án