TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-12-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Lượng
- Bà Đặng Thị Đôi
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2024/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- - Bị đơn: Anh Phạm Ngọc T, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 08/7/2024, bản tự khai ngày 15/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị H trình bày: Chị tự nguyện chung sống với anh Phạm Ngọc T từ năm 2006 nhưng đến ngày 03/01/2018 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, K. Nói chung vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do phong cách sống không phù hợp, vợ chồng không thống nhất trong làm ăn kinh tế, anh T gia trưởng, không tôn trọng ý kiến của chị, thường ghen tuông vô cớ, vợ chồng không cùng nhau chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình nên thường xuyên xảy ra cãi mắng nhau, anh T có lời nói đe dọa xúc phạm và hành vi đánh tát chị. Cuộc sống hôn nhân xảy ra mâu thuẫn trầm trọng nên cuối năm 2021 chị đã nộp đơn xin ly hôn anh T tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy. Sau khi Tòa án giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, được gia đình, địa phương khuyên giải để vợ chồng trở lại đoàn tụ, chị đã tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh T. Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 29/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/11/2021. Nhưng sau đó tình cảm không được cải thiện, mâu thuẫn giữa vợ chồng càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, tình cảm không còn, chị xin ly hôn anh T.
Về con chung: Có 03 con là Phạm Minh H1, sinh ngày 19/12/2007, Phạm Minh A, sinh ngày 23/11/2013 và Phạm Minh H2, sinh ngày 03/3/2020; hiện cả 3 con đang do anh T nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu H2, đồng ý để anh T tiếp tục nuôi dưỡng cháu H1 và Minh A đến khi các con đủ 18 tuổi; trên cơ sở nguyện vọng của cháu H1 và Minh A. Hiện nay chị và anh T đều có công việc và thu nhập ổn định, có nơi ăn ở đảm bảo, đủ điều kiện để nuôi các con tốt. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con giữa chị và anh T thỏa thuận tự giao nhận với nhau, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh T trình bày tại bản tự khai ngày 23/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án: Thống nhất với chị H về thời gian điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc và nguyên nhân mâu thuẫn. Trước đây anh có chơi bời nhưng vài năm gần đây anh đã chịu khó lao động. Đôi lúc trong cuộc sống anh có gia trưởng, ghen tuông vô cớ, vợ chồng không chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình, khi mâu thuẫn căng thẳng, anh có lời nói đe dọa và hành vi đánh tát chị H nhưng do khi đó anh nóng nảy không kiềm chế được bản thân. Cách đây mấy năm chị H đã nộp đơn xin ly hôn anh tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy; sau đó anh đã nhận thức được lỗi của mình và mong chị H bỏ qua để vợ chồng đoàn tụ nên chị H đã rút toàn bộ yêu cầu xin ly hôn anh. Hiện nay vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn nên chị H gửi đơn xin ly hôn anh, mặc dù mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại nhưng anh không đồng ý ly hôn mà xin đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau nuôi dạy các con chung.
Về con chung: Có 03 con là Phạm Minh H1, sinh ngày 19/12/2007, Phạm Minh A, sinh ngày 23/11/2013 và Phạm Minh H2, sinh ngày 03/3/2020. Hiện cả 3 con đang do anh nuôi dưỡng. Do anh mong muốn đoàn tụ nên không yêu cầu giải quyết về con chung, tuy nhiên nếu phải ly hôn thì anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con đến khi các con đủ 18 tuổi; trên cơ sở nguyện vọng của cháu H1 và Minh A. Hiện nay anh và anh chị H đều có công việc và thu nhập ổn định, có nơi ăn ở đảm bảo, đủ điều kiện để nuôi các con tốt. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con giữa anh và chị H thỏa thuận tự giao nhận với nhau, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, anh T là bị đơn vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai; đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
- - Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn anh T. Về con chung: Giao cháu Phạm Minh H1, sinh ngày 19/12/2007 và Phạm Minh A, sinh ngày 23/11/2013 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Phạm Minh H2, sinh ngày 03/3/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; hai bên đương sự đã thỏa thuận tự giao nhận với nhau, nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị H xin ly hôn anh T và yêu cầu giải quyết về nuôi con. Anh T đang cư trú tại thôn P, xã Đ, huyện K; căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Anh T là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T xác lập quan hệ vợ chồng theo đúng quy định về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K ngày 03/01/2018. Quan hệ hôn nhân giữa anh chị được xác định là hợp pháp. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do phong cách sống không còn phù hợp, vợ chồng không thống nhất trong làm ăn kinh tế, không cùng nhau chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình, anh T ghen tuông vô cớ, khi mâu thuẫn xảy ra có lời nói đe dọa và hành vi đánh tát chị H. Cuối năm 2021 chị H đã nộp đơn xin ly hôn anh T tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy. Sau khi Tòa án giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, được gia đình, địa phương khuyên giải để vợ chồng trở lại đoàn tụ, chị H đã tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh T. Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 29/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/11/2021. Nhưng sau đó tình cảm không được cải thiện, mâu thuẫn vẫn tiếp tục trở nên trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay chị H xin ly hôn, anh T không đồng ý ly hôn mà xin đoàn tụ. Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự cũng như những tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tài liệu xác minh, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp.
[4] Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Phạm Minh H1, sinh ngày 19/12/2007, Phạm Minh A, sinh ngày 23/11/2013 và Phạm Minh H2, sinh ngày 03/3/2020. Chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu H2, đồng ý để anh T tiếp tục nuôi dưỡng cháu H1 và Minh A; nhưng anh T không đồng ý và có nguyện vọng nuôi dưỡng cả 03 con. Tài liệu trong hồ sơ thể hiện cả 02 anh chị đều có công việc và thu nhập ổn định, có chỗ ở đảm bảo, đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tốt. Nguyện vọng của cháu H1, cháu Minh A đều muốn được ở với anh T; cháu H2 hiện nay đang 04 tuổi còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ. Trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; cần giao cháu H1 và Minh A cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu H2 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Phạm Ngọc T.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Minh H1, sinh ngày 19/12/2007, Phạm Minh A, sinh ngày 23/11/2013 cho anh Phạm Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Phạm Minh H2, sinh ngày 03/3/2020 cho chị Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng; đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, chị H, anh T đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007967 ngày 07 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy. Chị H đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thanh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Phạm Ngọc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngà |
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Văn Lượng | Đặng Thị Đôi | Phạm Thị Ngà |
Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh H và Phạm Ngọc T
