Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ QUAO

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS-ST

Ngày 10-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn

- Các Hội thẩm nhân dân.

1. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

2. Ông Danh Út Nhỏ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Gò Quao xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh P (tên gọi khác: Đ), sinh ngày 28/7/2001, tại: C - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Nơi tạm trú: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.; Số CCCD: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; con ông Nguyễn Văn L và bà Lê Phước Bạch K; vợ là Ngô Xuân H và 02 con; lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 232 ngày 17/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện G, có mặt.

Bị hại: Chị Phan Thị Huỳnh D, sinh năm 1995. Nơi cư trú: tổ A, khu phố N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Ngô Xuân H, sinh năm 2004. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có mặt

2/ Anh Nguyễn Vũ Â, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp F, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt

Người làm chứng: Anh Danh Chúc M, sinh năm 2002. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt không lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Thanh P nảy sinh ý định hẹn chị Phan Thị Huỳnh D đi hát Karaoke nhằm chiếm đoạt điện thoại di động của chị D bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/6/2024, P gọi qua mạng xã hội (Z) cho chị D và rủ chị D đến quán K1 thuộc ấp F, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang để nhậu và hát Karaoke thì chị D đồng ý. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày P một mình chạy xe máy đến nhà trọ của chị D ở xã T, thành phố V, tỉnh Hậu Giang để rước chị D. Sau đó, P chở D đến quán K1 và thuê phòng số 04 rồi gọi nhân viên mang trái cây, bia; P hát Karaoke và uống bia cùng với chị D. Trong lúc hát, P kêu chị D đi ra ngoài lấy gói thuốc lá, khi quay lại thì chị D phát hiện dưới nền gạch có viên thuốc, do sợ P bỏ thuốc mê cho mình uống nên chị D đi ra ngoài và điện thoại cho bạn lại rước về. Lúc này, P giật điện thoại của chị D rồi để ở trên bàn và kéo tay D vào phòng mục đích là không cho chị D đi về để tìm cơ hội lấy điện thoại. Lúc này, chị D có dùng chân đạp trúng vào người P, P tức giận dùng tay đấm vào mặt chị D và nắm tóc kéo chị D ngã xuống nền gạch. Chị D sợ nên năn nỉ P tha cho và hỏi P cần tiền hay gì? P hỏi tiền đâu thì chị D nói để gọi cho người nhà mang tiền lại. Nghe vậy P bỏ chị D ra và lấy điện thoại của chị D, rồi điều khiển xe chạy về xã Đ và cầm điện thoại của D tại cửa hàng Đ1 thuộc chợ C với số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó, P chạy xuống tỉnh Cà Mau đi làm và chuyển tiền về cho vợ P là chị Ngô Xuân H số tiền 1.000.000 đồng, còn lại 500.000 đồng P tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 08/7/2024 chị Phan Thị Huỳnh D đến Công an trình báo sự việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện G kết luận: “Một điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu trắng, mua vào năm 2020, thời điểm tháng 6/2024 có giá trị là 1.000.000đ (Một triệu đồng)”.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu trắng, số Imei 1: 355870662241382, mặt trước và sau điện thoại có nhiều vết nứt, không kiểm tra tình trạng bên trong máy. Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị hại theo biên bản ngày 16/7/2024; đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo, màu xanh bị cáo Nguyễn Thanh P sử dụng để liên lạc với bị hại; chiếc xe máy nhãn hiệu Sirius, màu vàng bị cáo điều khiển trong quá trình phạm tội. Qua điều tra, xác minh thì điện thoại P mượn của vợ sử dụng, xe máy mượn của cha vợ là Ngô Văn T.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKSND-GQ ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P mức án từ 03 đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí sửa chữa điện thoại di động và tiền thuốc điều trị thương tích với số tiền là 4.800.000₫ (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Bị cáo thống nhất bồi thường cho bị hại số tiền trên và đã khắc phục xong, hiện tại bị hại không có yêu cầu gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Vũ Â (chủ quán Karaoke Mỹ N) không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên không đề nghị xem xét.

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện G trả lại tài sản cho chủ sở hữu chị D 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu trắng, số Imei 1: 355870662241382, mặt trước và sau điện thoại có nhiều vết nứt.

Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Vũ Â có đơn xin vắng mặt; người làm chứng anh D1 Chúc Mừng vắng mặt nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Xét thấy những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh P đã khai nhận, khoảng hơn 14 giờ ngày 26/6/2024 tại quán K1 thuộc ấp F, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo P giật điện thoại của chị D rồi để ở trên bàn và kéo tay D vào phòng mục đích là không cho chị D đi về để tìm cơ hội lấy điện thoại. Chị D dùng chân đạp trúng vào người P, P dùng tay đấm vào mặt chị D và nắm tóc kéo chị D ngã xuống nền gạch. Chị D năn nỉ bị cáo tha cho và nói để gọi cho người nhà mang tiền lại thì P bỏ chị D ra và lấy điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu trắng của chị D rồi điều khiển xe chạy đi.

[4] Lời khai nhận của bị cáo cũng như lời khai của bị hại là hoàn toàn phù hợp với nội dung bản Cáo trạng số 65/CT-VKSND-GQ ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định: hơn 14 giờ ngày 26/6/2024 tại quán K1 thuộc ấp F, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang, bị cáo Nguyễn Thanh P đã dùng vũ lực, dùng tay đấm vào mặt chị D và nắm tóc kéo chị D ngã xuống nền gạch nhằm cướp lấy điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 màu trắng của chị D, tổng giá trị tài sản bằng 1.000.000đ (Một triệu đồng) nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.

[5] Xét về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác, đồng thời còn làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mà bất kỳ ai có hành vi xâm phạm đều bị xử lý nghiêm nhưng với bản chất lười lao động muốn có tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại; tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi và trao trả lại cho bị hại. Tại phiên tòa, bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi lượng hình.

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nhất là các tội xâm phạm quyền sở hữu đang dần gia tăng tại địa phương, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cho bị cáo học tập, cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị hại và bị cáo bồi thường chi phí sửa chữa điện thoại di động và tiền thuốc điều trị thương tích với số tiền là 4.800.000đ (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền trên và tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu thêm nên miễn xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Vũ Â không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên miễn xét.

[9] Về xử lý vật chứng: Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện G trả lại tài sản cho chủ sở hữu chị D.

[10] Đối với số tiền 1.000.000 đồng chị Ngô Xuân H nhận chuyển khoản từ bị cáo P, do chị H không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Về thương tích của chị Phan Thị Huỳnh D chỉ bị thương ở phần mềm và chị không yêu cầu giám định thương tích. Đối với hành vi theo bị hại trình bày ban đầu bị cáo P có ý thức muốn giao cấu với bị hại, qua là việc không đủ căn cứ và bị hại cũng không yêu cầu khởi tố.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh P 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 589 và Điều 590 Bộ luật dân sự;

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại chị Phan Thị Huỳnh D bồi thường chi phí sửa chữa điện thoại di động và tiền thuốc điều trị vết thương cho bị hại với số tiền là 4.800.000đ (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng) và bị cáo đã bồi thường xong.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo, bị hại, chị Ngô Xuân H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Nguyễn Vũ Â có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Viện KSND huyện Gò Quao;
  • - Công an tỉnh Kiên Giang (PV06);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Quao;
  • - Bị cáo; Những người TGTT;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tôn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG về cướp tài sản

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh P phạm tội Cướp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger