Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HNGD – ST.

Ngày: 26/11/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Mây .

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi, ông Dương Viết Vĩnh

Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình.

Đại diện VKSND huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Phú Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 196/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QÐST - HNGĐ ngày 14/11/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Hồng N, sinh năm 1998 - Có mặt

Nơi cư trú: Xóm M, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 - Có mặt

Nơi cư trú: Xóm M, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự trình bày như sau:

Nguyên đơn là chị Đặng Hồng N trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn T kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K trên sơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian đến cuối năm 2022 thì sảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về chuyện chia sẻ kinh tế trong gia đình, anh T thường xuyên vay nợ làm ảnh hưởng đến cuộc sống của chị và con. Chị bị rất nhiều đối tượng nhắn tin, đe doạ đòi nợ về các khoản vay của anh T với mục đích sử dụng riêng của anh. Mặc dù đã nhiều lần được hai bên gia đình ngồi lại nói chuyện nhưng mâu thuẫn vẫn không thể giải quyết. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15/02/2020. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tuấn K. Hiện tại chị đang làm công nhân tại công ty S với mức thu nhập là 14 triệu đồng đến 15 triệu đồng/ tháng nên đủ khả năng nuôi dưỡng cháu không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, khoản vay và cho vay: Không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh thừa nhận về thời gian kết hôn và thủ tục kết hôn như chị N trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc không xảy ra mẫu thuẫn gì. Anh T1 xác định tình cảm với chị N vẫn còn và mong muốn được về đoàn tụ cùng với vợ con. Trường hợp chị N vẫn kiên quyết ly hôn, anh có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Tuấn K, anh không yêu cầu chị N đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại anh T1 đang chạy taxi với mức thu nhập hàng tháng là 10 triệu đồng đến 12 triệu đồng/tháng.

Về tài sản chung, khoản vay và cho vay: Không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tạo điều kiện cho các bên đương sự có thời gian để suy nghĩ, tìm biện pháp giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, với mục đích để vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tại các phiên hòa giải, các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình và không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án phải quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa chị N và anh T1 giữ nguyên quan điểm như nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

[2]. Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Hồng N và anh Nguyễn Văn T kết hôn kết hôn năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, về quản lý kinh tế gia đình. Hai vợ chồng đều có nghề nghiệp và thu nhập tương đối ổn định nhưng chị N thường xuyên bị nhiều đối tượng quấy rối và đòi những khoản nợ riêng của anh T bằng các hình thức gặp trực tiếp chị hoặc liên tục gửi tin nhắn đến điện thoại của chị; Phía anh T có nguyện vọng đoàn tụ nhưng anh không có biện pháp khả thi, tại phiên tòa chị N kiên quyết xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn của hai vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị được ly hôn với anh T là phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống chị N và anh T có 01 con chung là Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15/02/2020. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, cả chị N và anh T đều có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con chung. Xét thấy cháu K đang còn nhỏ cần được sự chăm sóc từ người mẹ, hiện tại chị N đang có nơi ở, việc làm và thu nhập ổn định đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con; Phía anh T có nghề nghiệp là lái taxi nên thu nhập và thời gian làm việc phụ thuộc vào khách hàng; Ngoài ra anh T còn rất nhiều khoản nợ riêng chưa thanh toán nên liên tục bị các chủ nợ đòi nợ. Bởi các lý do trên, Hội đồng xét xử thấy nên chấp nhận yêu cầu của chị N, giao con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với thực tế và Điều 69, Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về quyền và nghĩa vụ thăm con sau ly hôn: anh T được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở, ngăn cấm. Vì lợi ích của con, chị N, anh T được quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Về tài sản chung, khoản vay và cho vay: Không có, hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 69, Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy Ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Hồng N, cho chị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Giao cho chị Đặng Hồng N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 15/02/2020, cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

    - Về cấp dưỡng nuôi con: chị Đặng Hồng N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

    - Về quyền và nghĩa vụ thăm con sau ly hôn: anh T được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở, ngăn cấm. Vì lợi ích của con chung, chị N, anh T được quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

  3. Về tài sản chung, khoản vay và cho vay: Không có, hai bên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Đặng Hồng N phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nộp Ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003967 ngày 09/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt hai bên đương sự. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - THADS huyện Phú Bình;
  • - UBND xã Kha Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hồng Mây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HNGD – ST. ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 64/2024/HNGD – ST.
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger