|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày: 22 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Bảo Ngân
Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh Tâm
Ông Bùi Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2024/HSST-QĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Nhật H – sinh năm 1999 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; con ông Trần Đình N (sinh năm 1976) và bà Nguyễn Thị Xuân T (sinh năm 1981); vợ, con: không; tiền án: - Ngày 14/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2019); - Ngày 08/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/2/2024); tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/8/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện D. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố số F, thị trấn V, huyện V, Khánh Hòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Đình N, sinh năm 1976 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1981 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện D, Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 01/4/2024, bị cáo Trần Nhật H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade màu đen, biển số 79D1 – 329.59 của bà Nguyễn Thị Xuân T lưu thông trên đường T (hướng từ xã D đi xã D). Khi đi đến trước chợ xã D, H thấy bà Nguyễn Thị T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen – bạc, biển số 79D1 – 894.88 đi ra từ nhà thuốc L, ở túi quần bên phải của bà T1 để lộ ra một chiếc ví da màu đen nên H nảy sinh ý định cướp giật tài sản. H điều khiển xe mô tô quay lại, bám theo sau xe bàThơm. Khi bà T1 điều khiển xe mô tô đi trên đường D (thuộc thôn T, xã D), H tăng ga, áp sát bên phải xe mô tô biển kiểm soát 79D1 – 894.88 và dùng tay trái giật chiếc ví trong túi quần của bà T1 rồi tăng ga bỏ chạy về bãi đất trống thuộc thôn P, xã D, huyện D. H kiểm tra trong chiếc ví và lấy số tiền 2.100.000 đồng, đồng thời ném lại ví cùng giấy tờ tùy thân của bà T1. Nhận được trình báo của bà T1, Cơ quan Công an tiến hành truy xét, đưa H về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra, Trần Nhật H cung cấp hồ sơ chẩn đoán bị co giật phân ly với tiên lượng dễ tái phát và đã điều trị tại Bệnh viện C. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 138/KLGĐTC ngày 04/7/2024 của Trung tâm P kết luận:
- Kết luận về y học:
+ Tại thời điểm gây án ngày 01/4/2024 Trần Nhật H: Chưa phát hiện bệnh lý tâm thần.
+ Hiện tại (tại thời điểm giám định) Trần Nhật H bị bệnh: Co giật phân ly.
- Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi:
+ Tại thời điểm gây án ngày 01/4/2024 Trần Nhật H: Đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
+ Hiện tại (tại thời điểm giám định) Trần Nhật H: Đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi (ngoại trừ trong cơ co giật phân ly mất khả năng điều khiển hành vi).
Tại Công văn số 381/CV-PYTTTN ngày 23/9/2024, Trung tâm P trả lời: Trần Nhật H bị bênh “Co giật phân ly” không làm hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 08/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: 01 ví da màu đen, kích thước 10 × 8 cm trị giá 125.000đ (Một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Về vật chứng của vụ án:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện D đã trả lại 01 ví da màu đen kích thước 10 × 8 cm, 01 căn cước công dân, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ ngân hàng A, 01 thẻ ngân hàng S mang tên Nguyễn Thị T1 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lê Thị N1 cho bà Nguyễn Thị T1; trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade màu đen biển kiểm soát 79D1 – 329.59 cho bà Nguyễn Thị Xuân T; trả lại 01 ví da màu nâu và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh cho Trần Nhật H.
- Số tiền 100.000 đồng do Trần Nhật H phạm tội mà có, đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện D.
- Đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh: 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 áo sơ mi dài tay sọc đỏ trắng; 01 quần Jeans màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu xám có mũ đội mà H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số 57/CT-VKSDK ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh truy tố bị cáo Trần Nhật H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H như nội dung cáo trạng nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo H từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 áo sơ mi dài tay sọc đỏ trắng; 01 quần Jeans màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu xám có mũ đội; Nộp ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện D.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Nhật H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Viện kiểm sát, thống nhất với bản luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại bà Nguyễn Thị T1 trình bày đã được bồi thường số tiền 2.100.000 đồng, không có yêu cầu gì đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đình N, bà Nguyễn Thị Xuân T không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố liên quan đến việc giải quyết vụ án trên, Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: Vào ngày 01/4/2024, tại xã D, huyện D; bị cáo Trần Nhật H đã sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade màu đen biển kiểm soát 79D1 – 329.59 nhanh chóng, công khai áp sát bị hại Nguyễn Thị T1 rồi bất ngờ giật lấy tài sản của bị hại là 01 ví da màu đen trị giá 125.000 đồng, bên trong ví có 2.100.000 đồng, tổng trị giá tài sản là 2.225.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh đã truy tố bị cáo Trần Nhật H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nhưng lại lười biếng lao động mà bị cáo đã có những hành động xem thường pháp luật, ngang nhiên, liều lĩnh giữa ban ngày cướp giật tài sản của người dân. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ngoài xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung tội phạm.
Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét và giải quyết.
[5] Về vật chứng vụ án:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả lại cho bà Nguyễn Thị T1 01 ví da màu đen kích thước 10 × 8 cm, 01 căn cước công dân, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ ngân hàng A, 01 thẻ ngân hàng S mang tên Nguyễn Thị T1 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lê Thị N1 cho bà Nguyễn Thị T1; trả lại cho bà Nguyễn Thị Xuân T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade màu đen biển kiểm soát 79D1 – 329.59; trả lại cho bị cáo Trần Nhật H 01 ví da màu nâu và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với số tiền 100.000 đồng đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện D, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên nộp vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 áo sơ mi dài tay sọc đỏ trắng; 01 quần Jeans màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu xám có mũ đội mà bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu, tiêu hủy.
- Về tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án: Bị cáo đã dùng số tiền 1.400.000 đồng lấy được trong ví của bà Nguyễn Thị T1 để mua 100 con gà và 01 bao cám (hiện ông Trần Đình N đang bảo quản). Theo Biên bản lấy lời khai của ông N, số gà trên đã chết hết và bao cám đã bị hư hỏng, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Các vấn đề khác: Đối với xe mô tô biển kiểm soát 79D1-329.59 của bà Nguyễn Thị Xuân T, bà T không biết việc bị cáo H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên không đủ cơ sở xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào các điều 106; 136; 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt bị cáo Trần Nhật H 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2024.
2. Về vật chứng vụ án:
- Nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện D (Theo giấy nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước huyện D ngày 14/8/2024)
- Tịch thu, tiêu huỷ 01 mũ bảo hiểm màu trắng; 01 áo sơ mi dài tay sọc đỏ trắng; 01 quần Jeans màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu xám có mũ đội (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02/10/2024 giữa Công an huyện D và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Diên Khánh);
3. Về án phí: Bị cáo Trần Nhật H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thái Bảo Ngân |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Nhật Hùng phạm tội "Trộm cắp tài sản"
