|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày: 13 – 11 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Hiếu và bà Huỳnh Khiết Như
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trương Trung Hiếu-Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử công khai-trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS, ngày 24 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Dởn, sinh ngày 07/02/2000, tại Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao C và bà Thạch Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 08/3/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số 27/2023/HS-ST, bị cáo chấp hành xong vào ngày 30/5/2023 (Chưa được xóa tiền án); Bị cáo bị bắt tạm giữ, tam giam từ ngày 30/7/2024 đến nay, có mặt.
*Bị hại:
- Anh Lâm S, sinh ngày 04/12/1992, địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, vắng mặt.
- Ông Nguyễn A, sinh ngày 19/6/1984, nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn H1, sinh ngày 07/3/1988, địa chỉ: Ấp L, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, có mặt.
- Cùng địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Lý H3, sinh năm 1988, địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, vắng mặt.
*Người làm chứng:
- Anh Trần Ngọc T, sinh ngày 13/12/1995, vắng mặt.
- Bà Trịnh Thị Ngọc H2, sinh ngày 01/01/1989, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Cao D là người có tiền án về Tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, nhưng đã nhiều lần thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện K và huyện C, tỉnh Sóc Trăng, cụ thể như sau:
Lần thứ 1: Vào chiều ngày 22/5/2024, Cao D tham gia uống rượu và ngủ tại nhà của ông Lý H3, tại xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, sau khi thức dậy, Cao D đi bộ về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc ấp C, xã K, huyện K, Sóc Trăng, Cao D nhìn thấy chiếc xe mô-tô Biển số 64H3-4211, của anh Lâm S, đậu cạnh bụi tre, để đi ruộng, không có người trông coi. Lúc này, Cao D nảy sinh ý định lấy trộm xe này, nên bị cáo đi lại chỗ đậu xe và lấy trộm chiếc xe anh S, nhưng do xe bị hỏng, bị cáo không khởi động được, nên đã dẫn xe của anh S đến tiệm sửa xe của anh Trần Ngọc T để sửa xe, anh T thấy chiếc xe mà bị cáo đem lại sửa là xe của anh S, do anh S có đem xe này cho anh T sửa, anh T hỏi Cao D: “anh S kêu đem xe lại sửa hay gì?”, Cao D nói: “đi sửa xe dùm anh S, để nữa anh S lại trả tiền”, anh T thay dây ga xe xong, thì Cao D điều khiển chiếc xe mô-tô này của anh S chạy về nhà. Sau đó Cao D biết Công an đang truy tìm, nên đem xe mô-tô Biển số 64H3-4211, đã trộm của anh S, đến nhà anh Lý H3 lại trước nhà, rồi bỏ trốn, anh Lý H3 đã điện thoại đến Công an xã P trình báo và giao nộp lại xe cho Cơ quan Công an.
Vụ thứ 2: Khoảng 14 giờ 30 ngày 29/6/2024, Cao D đi bộ từ nhà đến nhà chị ruột tên Cao Thị Sà H4, ngụ ấp P, xã P, C, Sóc Trăng. Khi còn khoảng 200 mét nữa đến nhà chị H4, Cao D nhìn qua sông đối diện, thì thấy có một Nhà Y, ở ấp P, xã P, C, của anh Nguyễn A; Cao D nghe tiếng chó sủa trong Nhà Y. Lúc này, Cao D nảy sinh ý định bắt trộm chó để bán lấy tiền tiêu xài, sau khi đến nhà chị H4 chơi khoảng 60 phút, Cao D đi bộ qua Nhà Y của ông Nguyễn A để tìm cách bắt trộm chó. Trên đường đi đến Nhà Y, Cao D nhặt 01 cái bao (loại bao đựng phân bón) mang theo để đựng chó, khi đến Nhà Y, Cao D lội qua sông và leo qua hàng rào, vào khu vực Nhà Y. Cao Dơn đi đến lồng sắt đang nhốt 03 con chó. Lúc này, Cao D thấy có Camera, sợ bị phát hiện, Cao D đã lấy tấm dán gần đó đẩy 02 mắt của C1 hướng lên trên, để không bị phát hiện, rồi đi lại lồng sắt, mở cửa ra và bắt con chó đầu tiên có bộ lông màu xám, nặng khoảng 5,5kg bỏ vào bao, sau đó con chó này đã nhảy ra khỏi bao chạy thoát, Cao D tiếp tục kề miệng bao sát vào cửa lồng bắt 02 con chó còn lại, một con có bộ lông màu xám, 01 con có bộ lông màu vàng, trọng lượng mỗi con khoảng 05kg bỏ vào bao và lấy cái bọc nilong gần đó cột miệng bao lại, rồi vác lên vai, leo qua hàng rào trở ra ngoài.
Cao Dởn mang 02 con chó vừa trộm được đi về hướng khu Công nghiệp được khoảng 500 mét thì gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch), hỏi “trong bao đựng cái gì”, Cao D nói “con chó”, người đàn ông kêu Cao D mở miệng bao cho xem và hỏi “bán không?”, Cao D nói “bán”, người đàn ông hỏi “bán bao nhiêu?”, Cao D nói “300.000 đồng”, người đàn ông đồng ý mua 02 con chó với số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), đã trả tiền Cao D và mang 02 con chó đi. Cao Dơn lấy số tiền 300.000 đồng và tiêu xài hết. Sau khi tiếp nhận tin báo Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện C tiến hành mời Cao Dởn về làm việc thì Cao D đã khai nhận việc trộm chó của anh Nguyễn Anh.
-Tại Bản kết luận định giá tài sản số 26/BB ngày 29/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K kết luận: 01 (một) xe mô-tô nhãn hiệu ELGO, màu đỏ-đen, Biển số 64H3-4211, xe đăng ký lần đầu ngày 14/8/2007, giá trị còn lại là 20%, thành tiền 20% x 15.000.000 đồng = 3.000.0000 đồng (ba triệu đồng).
-Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐG, ngày 23/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận:
- 01 con chó khoảng 05 tháng tuổi, thuộc loại chó kiểng, có lông màu xám, có trọng lượng khoảng 07kg: Đơn giá 50.000 đồng/kg, cân nặng 07kg, thành tiền: 350.000 đồng.
- 01 con chó khoảng 05 tháng tuổi, thuộc loại chó kiểng, có lông màu vàng, có trọng lượng khoảng 07kg: Đơn giá 50.000 đồng/kg, cân nặng 07kg, thành tiền: 350.000 đồng.
- 01 con chó khoảng 05 tháng tuổi, thuộc loại chó kiểng, có lông màu xám, có trọng lượng 5,5kg: Đơn giá 50.000 đồng/kg, cân nặng 5,5kg, thành tiền: 275.000 đồng.
Tổng cộng: 975.000 đồng (Chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
-Tại Bản Cáo trạng số 63/CT-VKS-KS, ngày 10/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng để xét xử bị cáo Cao D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo D thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và nội dung vụ án giống như Cáo trạng đã nêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khi luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Cao D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo D từ 01 năm đến 02 năm tù.
-
Về xử lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) cái nón (loại nón kết) màu xám, có ghi dòng chữ NIKE màu trắng, nón đã qua sử dụng;
- 01 (một) cái áo thun, ngắn tay, màu đen, cổ áo tròn, phía trước áo có ghi, dòng chữ UNITED STATES OF màu trắng và dòng chữ AMERICA màu xanh, áo đã qua sử dụng;
- 01 (một) cái quần đùi bằng thun màu đỏ, hai bên hông quần (bên trái, bên phải) mỗi bên có 03 kẻ sọc dọc màu trắng, quần đã qua sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị lấy trộm và cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện K, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người tham gia tố tụng sau đây không rõ lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ: Bị hại Lâm Sâm; người làm chứng Trần Ngọc T, Trịnh Thị Ngọc H2 và Lý H3. Xét thấy, trong quá trình điều tra, những người này có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng, không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 và khoản 3 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Cao D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai trước đây tại Cơ quan Điều tra; phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Điều tra đã thu thập được, như: Bản kết luận định giá tài sản, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản ảnh hiện trường, Sơ đồ hiện trường.
[4] Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Cao D, đã có một tiền án về Tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, lại có hành vi lén lút trộm cắp một xe mô-tô Biển số 64H3–4211 có giá trị 3.000.0000 đồng của bị hại Lâm Sâm, xảy ra ngày 22/5/2024, tại ấp C, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng và ngày 29/6/2024, tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo D tiếp tục trộm 03 con chó của bị hại Nguyễn A có giá trị 975.000 đồng. Hành vi của bị cáo D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, như Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã truy tố, là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến tài sản hợp pháp của các bị hại, được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất an ninh trật tự xã hội ở địa phương, nên cần xử lý nghiêm.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần đều thoả mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm, và đã có một tiền án chưa được xóa án tích, nên bị cáo bị áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm, theo quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản xe mô-tô của bị hại S được thu hồi trả lại cho bị hại, 03 con chó của bị hại Anh bị lấy trộm có giá trị không lớn, nên xem như bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, bị cáo trình độ học vấn thấp, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[8] Về hình phạt: Bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm và cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[10] Về xử lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) cái nón (loại nón kết) màu xám, có ghi dòng chữ NIKE màu trắng, nón đã qua sử dụng;
- 01 (một) cái áo thun, ngắn tay, màu đen, cổ áo tròn, phía trước áo có ghi, dòng chữ UNITED STATES OF màu trắng và dòng chữ AMERICA màu xanh, áo đã qua sử dụng;
- 01 (một) cái quần đùi bằng thun màu đỏ, hai bên hông quần (bên trái, bên phải) mỗi bên có 03 kẻ sọc dọc màu trắng, quần đã qua sử dụng.
[11] Về án phí: Buộc bị cáo D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[12] Đề nghị của Kiểm Sát viên tại phiên tòa sơ thẩm về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Cao Dm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điểm g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Cao D(Một) năm 09 (C2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 7 năm 2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
-
Về xử lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) cái nón (loại nón kết) màu xám, có ghi dòng chữ NIKE màu trắng, nón đã qua sử dụng;
- 01 (một) cái áo thun, ngắn tay, màu đen, cổ áo tròn, phía trước áo có ghi, dòng chữ UNITED STATES OF màu trắng và dòng chữ AMERICA màu xanh, áo đã qua sử dụng;
- 01 (một) cái quần đùi bằng thun màu đỏ, hai bên hông quần (bên trái, bên phải) mỗi bên có 03 kẻ sọc dọc màu trắng, quần đã qua sử dụng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Di chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm; Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày giao nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Vinh Thắng |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp TS
