TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2024/HSST Ngày 19-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị P H
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn H;
- Bà Bùi Thị HL;
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị H - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An;
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phi Th - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ an xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/HSST-QĐ ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Hữu H, tên gọi khác: Không; sinh năm 1977 tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu T (Đã chết); con bà Hồ Thị L, sinh năm 1956; vợ: Lê Thị N, sinh năm 1976 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1963; cư trú tại: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An tỉnh Nghệ An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phan Văn N1; sinh năm 1969; nơi cư trú: K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 13 tháng 7 năm 2024, bà Phan Thị Đ (sinh năm 1963, cư trú xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An) điều khiển xe đạp nhãn hiệu Việt-Nhật, màu trắng di chuyển trên đường N theo hướng từ xóm K, xã H đi xã H. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường N và đường Q thì bà Đ dừng xe lại, dùng hai chân để giữ thăng bằng cho xe đạp, sau đó xuống xe (xuống phía bên trái xe đạp) quan sát các phương tiện trên đường quốc lộ 46B để qua đường. Cùng lúc này, Phạm Hữu H điều khiển xe ô tô BKS: 37C-136.19 di chuyển cùng chiều trên đường N. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường N và đường quốc lộ 46B, do không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên H điều khiển xe ô tô BKS: 37C-136.19 vượt lên phía bên trái vị trí bà Đ đang dắt xe đạp, rẽ phải vào đường quốc lộ 46B (theo hướng thành phố V đi huyện H) khiến xe ô tô BKS: 37C-136.19 va chạm với xe đạp của bà Đ, kéo bà Đ và xe đạp tiến lên phía trước chếch sang phải theo hướng di chuyển của xe ô tô làm bà Đ và xe đạp ngã ra đường, bị bánh lốp trước bên phải xe ô tô BKS: 37C-136.19 lăn qua phần đùi phải làm bà Đ bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện V.
Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, dựng lại hiện trường; tiến hành đo nồng độ cồn, xét nghiệm chất kích thích, kết quả xác định Phạm Hữu H không sử dụng rượu bia và các chất kích thích; Giám định pháp y đối với bà Phan Thị Đ kết quả tỷ lệ thương tật 65%, giám định kỹ thuật hình sự. Thu giữ tài sản, đồ vật liên quan đến vụ án gồm:
- 01 xe ô tô tải BKS: 37C-136.19; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, BKS: 37C-136.19; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn đã được trả lại cho chủ sở hữu là ông Phan Văn N1.
- 01 xe đạp mini nhãn hiệu Việt-N đã được trả lại cho chủ sở hữu là bà Phan Thị Đ.
- 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] được cấp cho Phạm Hữu H ngày 19/8/2019 có giá trị đến ngày 19/8/2024 được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Phạm Hữu H đã bồi thường cho bà Phan Thị Đ số tiền 110.000.000 đồng, nay bà Phan Thị Đ không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản Cáo trạng số 67/VKS-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã truy tố Phạm Hữu H1 tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Bị cáo hoàn toàn khai nhận hành vi của Bị cáo giống như diễn biễn sự việc mà Bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện VKSND huyện Hưng Nguyên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ ràng, bị cáo nhận tội nên VKS giữ nguyên về tội danh như Cáo trạng đã truy tố. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Hữu H từ 06 đến 09 cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Về hình phạt bổ sung: đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo; Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa hôm nay, Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của Bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ; lời khai của Người bị H2, N2 làm chứng có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi điều khiển xe ô tô trong khi chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác của bị cáo H đã gây tai nạn. Hậu quả, bà Phan Thị Đ bị thương với tỷ lệ thương tật 65% đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 và khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn và ý thức tham gia giao thông của toàn xã hội. Vì vậy, cần tuyên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải; Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại là 110.000.000 đồng. Bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như điều luật đã nêu. Tuy nhiên, bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập cá nhân đối với bị cáo Phạm Hữu H.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và Bị hại đã thỏa thuận bồi thường đầy đủ, không có yêu cầu gì thêm nên Tòa không xét.
[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ theo quy định tại điểm a Điều 2 phần II công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10 tháng 6 năm 2002 của Tòa án nhân dân tối cao: Trả 01 giấy phép lái xe hợp lệ hạng B2 số [...] cho Bị cáo.
[7]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Phạm Hữu H phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Phạm Hữu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Hữu H 06 (sáu) tháng “cải tạo không giam giữ” Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự nơi bị cáo thi hành nhận được quyết định thi hành án.
Miễn khấu trừ thu nhập cá nhân đối với bị cáo Phạm Hữu H.
Giao cho Uỷ ban nhân dân nơi bị cáo cư trú cùng với gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng: Trả lại 01 giấy phép lái xe hợp lệ hạng C số [...] cho bị cáo Phạm Hữu H có tại hồ sơ vụ án.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS buộc bị cáo Phạm Hữu H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phan Hương |
Bản án số 64/2024/HSST ngày 19/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 64/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giao thông
