Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS-ST

Ngày: 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Mai Thương
    • Ông Lưu Trọng Kim;
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với :

-Bị cáo: Lê Minh Đ, sinh năm: 1989, tại Bình Thuận; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: khu phố A, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Cha: Lê Văn H, sinh năm 1962; Mẹ: Lương Thị Thúy H1, sinh năm 1965, hiện trú tại khu phố A, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 02 anh em, Lê Minh Đ là con út trong gia đình; Vợ: Nguyễn Phương Ngọc O (đã ly hôn), sinh năm 1991, trú thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2019.

Tiền sự; Tiền án: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa)

-Người làm chứng: Phan Quốc D, sinh năm: 1970 (vắng)

Nơi cư trú: thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 4 giờ 50 phút ngày 06/6/2024, Công an xã Đ tiến hành tuần tra trên địa bàn xã, khi đến ngã ba đường số I giao nhau với đường số A thuộc thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận thì phát hiện 01 đối tượng điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 86B8-583.82 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, Tổ tuần tra phát hiện trong túi quần bên trái phía trước của đối tượng có 01 bịch nylon có tinh thể màu trắng và viên nén bị vỡ vụn màu xám nghi là ma túy. Qua làm việc, đối tượng khai nhận tên là Lê Minh Đ, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú tại tổ D, khu phố A, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Bịch nylon mà đối tượng để trong túi quần là ma túy Đ mua về để sử dụng.

Quá trình điều tra xác định: Vào tối ngày 05/6/2024, sau khi nhậu xong thì Lê Minh Đ có ý định sử dụng trái phép chất ma túy nên đã điện thoại cho một người thanh niên tên là N, ở huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (là người Đ quen trong một lần đi chơi tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai) nhờ mua giùm 1.500.000 đồng ma túy dạng khay và thuốc lắc để sử dụng. N đồng ý mua cho Đ và hẹn Đ đến khu vực cầu B giáp ranh xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận và xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai để giao nhận ma túy. Đến khoảng 04 giờ ngày 06/6/2024, Lê Minh Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 86B8 – 583.82 đi đến khu vực Cầu B thì gặp đối tượng tên N đứng chờ sẵn, Lê Minh Đ đưa cho N số tiền 1.500.000 đồng và N đưa cho Đ 01 bịch nylon được hàn kín 3 đầu, một đầu có khóa kéo viền màu xanh có kích thước khoảng (3 x 3,8)cm, bên trong có chứa viên nén màu xám bị vỡ vụn và 01 bịch nylon được hàn kín 3 đầu, một đầu có khóa kéo viền màu đỏ kích thước khoảng (2 x 3)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Sau khi nhận số ma túy trên thì Lê Minh Đ cất giấu toàn bộ số ma túy này vào túi quần phía trước bên trái của Đ rồi điều khiển xe mô tô biển số 86B8 – 583.82 quay về lại thị trấn V, huyện Đ. Khi đi tới khu vực ngã ba đường bê tông giao nhau giữa đường số I và số A thuộc thôn F, xã Đ thì bị Công an xã Đ yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện số ma túy mà Lê Minh Đ vừa cất giấu trong túi quần phía trước bên trái của Đ nên tiến hành lập biên bản sự việc, đưa Lê Minh Đ về trụ sở làm việc. Quá trình điều tra, Lê Minh Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Tại Kết luận giám định số 722/KL-KTHS ngày 10/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • - Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được đựng trong 01 gói nylon có khóa kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (2 x3)cm gửi giám định có khối lượng 0,4888 gam, là Ketamine;
  • - Chất bột màu xám (ký hiệu M2) gửi giám định có khối lượng 0,3013 gam, là MDMA.

Lê Minh Đ có hành vi tàng trữ trái phép 02 chất ma túy, trong đó có 01 chất là MDMA, có khối lượng 0,3013 gam thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và 01 loại ma túy khác ở thể rắn là Ketamine, có khối lượng 0,4888 gam, chưa đủ khối lượng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ để xác định tỷ lệ % của từng loại chất ma túy so với mức tối thiểu được quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cụ thể: 0,3013 gam MDMA chiếm tỷ lệ 6,026% so với mức tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự (0,3013 gam so với 5 gam); 0,4888 gam Ketamine chiếm tỷ lệ 2,444 % so với mức tối thiểu quy định tại điểm L khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự (0,4888 gam so với 20 gam). Tổng số % là 8,47% (dưới mức 100%) nên hành vi phạm tội của Lê Minh Đ thuộc trường hợp “có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với đối tượng tên N sống tại huyện Đ, tỉnh Đồng Nai là người mua ma túy giúp cho Lê Minh Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được cụ thể nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục xác minh, làm rõ đối tượng sau.

Vật chứng: 01 gói nylon màu trắng trong, có khóa kéo viền xanh, kích thước khoảng (3,8 x 3)cm; 01 túi nylon có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (3 x 2)cm; 0,4540 gam mẫu M1; 0,0381 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 722, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, là chất cấm tàng trữ.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 86B8-583.82 do Lê Minh Đ điều khiển là tài sản của ông Lê Văn H (Cha ruột của Lê Minh Đ), việc Đ điều khiển xe mô tô trên đi mua ma túy thì ông H không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu.

Tại cáo trạng số 63/CT-VKSÐL-HS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Lê Minh Đ ra trước Tòa án nhân dân huyện Đức Linh để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

Đồng thời đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng đang thu giữ gồm:

  • Vật chứng: 01 gói nylon màu trắng trong, có khóa kéo viền xanh, kích thước khoảng (3,8 x 3)cm; 01 túi nylon có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (3 x 2)cm; 0,4540 gam mẫu M1; 0,0381 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 722, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, là chất cấm tàng trữ.

Bị cáo Lê Minh Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình và trình bày lời sau cùng như sau: Bị cáo thấy ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Phần thủ tục: Tại phiên tòa người làm chứng Phan Quốc D vắng mặt. Việc vắng mặt này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của anh, được cơ quan điều tra lấy lời khai đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó việc vắng mặt của anh không làm ảnh hưởng đến nội dung xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh D là đúng quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, kết luận giám định, bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường số I với đường số A thuộc thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, Công an xã Đ tuần tra an ninh trật tự trên địa bàn xã thì phát hiện Lê Minh Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy gồm 0,4888 gam Ketamine và 0,3013 gam MDMA.

Tổng tỷ lệ % khối lượng Ketamine và MDMA tàng trữ so với mức tối thiểu của từng chất đó quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự là dưới 100%. Vì vậy hành vi phạm tội của Lê Minh Đ thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Minh Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017. Tại Cáo trạng số 63/CT-VKSÐL-HS ngày 04/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố Lê Văn Đ1 với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, góp phần làm xấu hơn tình hình tội phạm về ma túy đang diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện Đ. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, qua đó thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội cũng như để bị cáo có đủ thời gian cai nghiện.

-Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Xét về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

[4] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, ngoài hình phạt chính cần phạt bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo là phù hợp.

[5] Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

  • 01 gói nylon màu trắng trong, có khóa kéo viền xanh, kích thước khoảng (3,8 x 3)cm; 01 túi nylon có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (3 x 2)cm; 0,4540 gam mẫu M1; 0,0381 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 722, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B

[6] Đối với đối tượng tên N là người mua ma túy giúp cho Lê Minh Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được cụ thể nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục xác minh, làm rõ đối tượng sau.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí HSST: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[9]Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 332, 333 của bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

  1. Tuyên bố Lê Minh Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Lê Minh Đ 01(một) năm 01(một) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt thi hành án.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon màu trắng trong, có khóa kéo viền xanh, kích thước khoảng (3,8 x 3)cm; 01 túi nylon có khóa kéo viền đỏ, kích thước khoảng (3 x 2)cm; 0,4540 gam mẫu M1; 0,0381 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 722, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B

    (Hiện vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh).

  3. Về án phí HSST: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/9/2024) để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND, Công an huyện Đức Linh;
  • - TTLLTP-QG, Sở Tư pháp Bình thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Linh ;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Văn Phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Xuân Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger