|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 64/2024/HS-ST |
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Chử
Bà Bùi Thị Huế
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Lam - Thư ký TAND huyện Ân Thi
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Thanh Phúc - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Ân Thi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với:
Bị cáo: Phí Đức T Sinh năm: 1995 Giới tính: Nam
Nơi sinh, cư trú trú: thôn An Đạm, xã Hoàng Hoa Thám, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: 8/12
Bố: Phí Đức N, sinh năm 1973 Nghề nghiệp: Trồng trọt
Mẹ: Trần Thị B, sinh năm 1974 Nghề nghiệp: Trồng trọt
Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Vợ là Nguyễn Thị Huyền C, sinh năm 1993
Con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 16/12/2016 bị Toà án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, chấp hành xong bản án ngày 22/11/2017
- Ngày 06/5/2020 bị Toà án nhân dân huyện Ân Thi xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong bản án ngày 02/6/2021.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 07/6/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ân Thi (có mặt tại phiên tòa)
Người làm chứng:
- Ông Phan Tiến D, sinh năm: 1958 (vắng mặt)
- Ông Lương Quang H, sinh năm: 1956 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn V, xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
Địa chỉ: thôn V, xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện chất ma tuý nên khoảng 19 giờ 40 phút ngày 01/6/2024, Phí Đức T đi bộ đến khu vực thôn V, xã T, huyện  tìm mua ma tuý để sử dụng. Tại đây, T gặp 01 người đàn ông không biết tên, địa chỉ, trông giống người nghiện nên đi lại gần hỏi mua ma tuý thì người này đồng ý. T đưa cho người đàn ông này 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, người này cầm rồi đưa lại 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất màu trắng dạng bột và cục. T biết là ma túy nên cất giấu gói ma tuý vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi về. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến cổng làng thôn V, xã T thì bị Tổ công tác Công an huyện Ân Thi và Công an xã T tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thấy có biểu hiện nghi vấn, nên đã yêu cầu dừng lại kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện tại túi quần phía trước bên phải T đang mặc 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước (1,4x0,5)cm bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột, T khai nhận là ma túy vừa mua để sử dụng. Công an huyện Ân Thi đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước (1,4x0,5)cm, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột niêm phong trong bì thư ghi ký hiệu (I).
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 01/6/2024 đối Phí Đức Tuấn, kết quả xét nghiệm: Dương tính với chất ma túy.
Bản Kết luận giám định số 396/KL-KTHS (MT) ngày 04/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu (I) có khối lượng là: 0,170g (Không phẩy một bẩy không gam), là ma tuý, loại Heroine (Heroin). Hoàn lại sau giám định trong một phong bì được niêm phong ghi số 396/KL-KTHS (MT), bên trong chứa 0,155g (Không phẩy một năm năm gam) ma tuý, loại Heroine (Heroin), 01 (Một) mảnh giấy và 01 (Một) vỏ phong bì.
Quá trình điều tra, bị cáo Phí Đức T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về vật chứng của vụ án: 0,155g (Không phẩy một năm năm gam) ma tuý, loại Heroine (Heroin), 01 (Một) mảnh giấy và 01 (Một) vỏ phong bì trong niêm phong ghi số 396/KL-KTHS (MT) hiện được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ân Thi chờ xử lý.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo T, bị cáo T khai không biết tên, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi đã xác minh nhưng không đủ căn cứ xác định là ai nên tiếp tục tổ chức điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKSAT ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Phí Đức T về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Phí Đức T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng số 60/CT-VKSAT ngày 26/8/2024. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo Phí Đức T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 01/6/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Đối với 0,155g (Không phẩy một năm năm gam) ma tuý, loại Heroine (Heroin), 01 (Một) mảnh giấy và 01 (Một) vỏ phong bì do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên hoàn lại sau giám định đây là chất nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị nên cho tịch thu tiêu hủy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi đã thu thập được nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 01/6/2024, tại thôn V, xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Phí Đức T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 01 gói ma tuý loại Heroine (Heroin) có khối lượng là 0,170g mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu toàn bộ vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy nói chung và Heroin nói riêng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hiện nay, các tội phạm về ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng rất lớn đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Phí Đức T đã cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu với các quy định của pháp luật, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai khai báo, ăn năn hối cải, có ông nội là Phí Văn T1 và bà nội là Doãn Thị L đều được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, bị cáo đã 02 lần bị Tòa kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật. Vì vậy ở lần phạm tội này cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản chung riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Heroin là mặt hàng cấm, nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy được hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên trong 01 phong bì niêm phong ghi số 396/KL-KTHS(MT) sau giám định gồm: 0,155g (Không phẩy một năm năm gam) ma tuý, loại Heroine (Heroin); 01 (Một) mảnh giấy và 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
[5] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phí Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phí Đức T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2024.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 0,155g (Không phẩy một năm năm gam) ma tuý, loại Heroine (Heroin); 01 (Một) mảnh giấy và 01 (Một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định trong phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số 396/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên.
(Đặc điểm chi tiết các vật chứng được thể hiện theo Quyết định chuyển vật chứng số 57/QĐ-VKSAT ngày 26/8/2024 của VKSND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên và được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/8/2024).
Về án phí: Bị cáo Phí Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Thủy |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phí Đức T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
