|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-9-2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Hà Thị Nga
- Bà Nguyễn Thị Bích Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 818/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 895/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số B tầng B Khu tập thể B, ngõ B T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Đoàn Văn T1; nơi cư trú: Số A T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị và anh Đoàn Văn T1 xây dựng gia đình với nhau từ năm 2006 trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng vào ngày 25/10/2006. Đến nay vợ chồng có hai con chung.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2013 do anh T1 nghiện rượu, nghiện chất kích thích, thường xuyên đánh đập và đuổi ba mẹ con chị ra ngoài đường. Để bảo vệ bản thân mình và hai con khỏi sự bạo hành của anh T1, năm 2017 ba mẹ con chị T đã chuyển ra ngoài thuê nhà ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm đến cuộc sống riêng của nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, chị Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đoàn Văn T1.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đoàn Thị Anh T2, sinh ngày 27/5/2008 và Đoàn Quốc T3, sinh ngày 16/11/2012. Chị T xin được tiếp tục trực tiếp nuôi cả hai con đến khi con thành niên đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho anh T1, anh T1 đã nhận được nhưng không đến Tòa án làm việc và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ với đại diện chính quyền địa phương nơi chị T anh T1 chung sống và đại diện gia đình chị T được biết: Quá trình chung sống vợ chồng chịu T anh T1 có xảy ra mâu thuẫn, ba mẹ con chị T đã chuyển đi nơi khác ở từ nhiều năm. Nay chị T xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung và tài sản chung đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị T và anh T1 kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đoàn Văn T1; về con chung: Đề nghị giao cả hai con chung là Đoàn Thị Anh T2, sinh ngày 27/5/2008 và Đoàn Quốc T3, sinh ngày 16/11/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét; về tài sản chung chị T không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét; về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là anh Đoàn Văn T1 hiện đang cư trú tại số A T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
[2] Bị đơn anh Đoàn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất và đã được tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt, do vậy HĐXX căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Đoàn Văn T1.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Đoàn Văn T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 25/10/2006, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.
[4] Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp, anh T1 thường xuyên có hành động bạo hành đối với vợ, con. Đỉnh điểm đến năm 2017 chị T cùng hai con đã chuyển nhà ra nơi khác ở, vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ anh Đoàn Văn T1 đến Tòa án làm việc nhiều lần nhưng anh T1 đều không đến và không có ý kiến trình bày về quan điểm của mình, qua đó cho thấy anh T1 cũng không muốn hàn gắn tình cảm với chị T. Đồng thời qua các tài liệu xác minh thu thập chứng cứ đã xác nhận cuộc sống chung giữa anh T1 và chị T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại đã sống ly thân nhau. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh T1 và chị T trên thực tế đã không còn, mâu thuẫn thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị T yêu cầu được ly hôn anh T1 là phù hợp, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đoàn Thị Anh T2, sinh ngày 27/5/2008 và Đoàn Quốc T3, sinh ngày 16/11/2012. Khi chị chuyển nhà đi nơi khác ở, cả hai con ở cùng chị, nay ly hôn, chị T có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi cả hai con chung đến khi con thành niên đủ 18 tuổi. Mặt khác, anh T1 không có ý kiến gì thể hiện quan điểm về việc nuôi con gửi cho Tòa án. Vì vậy việc chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế, phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí:
[8] Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Đoàn Văn T1.
- Về nuôi con chung: Giao cả hai con chung là Đoàn Thị Anh T2, sinh ngày 27/5/2008 và Đoàn Quốc T3, sinh ngày 16/11/2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này chị T đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003257 ngày 07 tháng 5 năm 2024.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |
Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
