Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP.PHAN RANG-THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/DS-ST

Ngày: 17 - 9 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

Bà Phan Thị Thanh Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang -Tháp Chàm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1).

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D làm Tổng giám đốc.

Địa chỉ trụ sở chính: Số nhà B đường N, Phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đào Thị Đoan T - Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh N (Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số: 3524/2023/QĐ-PC, ngày 25/12/2023). Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phạm Ngọc V– Chuyên viên quản lý nợ - Chi nhánh N (Giấy ủy quyền số: 25/2024/GUQ –CNNT ngày 11/04/2024) (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ trụ sở: Số G đường T, phường K, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc D1, sinh năm 2002 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố A, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 30/11/2022, ông Nguyễn Quốc D1 có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) lãi suất 2.77%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Nguyễn Quốc D1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 16.000.000 đồng.

Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ông Nguyễn Quốc D1 phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Ông Nguyễn Quốc D1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 0 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
  • + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
  • + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
  • + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
  • + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Ông Nguyễn Quốc D1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Nguyễn Quốc D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 24.04.2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 17.440.000 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Tính đến ngày 17/9/2024, ông Nguyễn Quốc D1 còn nợ các khoản sau: Số tiền gốc : 17.440.000 đồng; Số tiền lãi quá hạn : 6.906.676 đồng.Tổng cộng : 24.346.676 đồng (Bằng chữ: Hai mươi bốn triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi sáu đồng).

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Quốc D1 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số nợ trên bao gồm nợ gốc và lãi quá hạn tính đến ngày 17/9/2024 là 24.346.676 đồng và khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc kể từ ngày 18/9/2024 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc D1: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng ông D1 không đến Tòa án, do đó không thể lấy lời khai, không tiến hành hòa giải được theo quy định.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguời đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không có lý do, không có bất kỳ ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc D1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Quốc D1 phải trả cho Ngân hàng số nợ tính đến hết ngày 17/9/2024 là 24.346.676 đồng.Trong đó: Nợ gốc 17.440.000 đồng; Số tiền lãi quá hạn : 6.906.676 đồng và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 18/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đối tượng tranh chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S với ông Nguyễn Quốc D1 là hợp đồng tín dụng có mục đích vay tiền là vay tiêu dùng, bên vay vốn là cá nhân không có mục đích lợi nhuận, vì vậy xác định đây là quan hệ pháp luật dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại khu phố A, phường V, thành phố P - T và nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T giải quyết. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

[2] Về thủ tục niêm yết, tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang -T đã tiến hành xác minh về nơi cư trú của ông Nguyễn Quốc D1 tại Khu phố A, phường V, thành phố P -T và xác định ông Nguyễn Quốc D1 hiện không có mặt tại địa phương nhưng vẫn có hộ khẩu thường trú tại đây. Khi đi ông Nguyễn Quốc D1 không thông báo về nơi cư trú mới cho địa phương, không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới. Do vậy, đây được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ –HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Địa chỉ khu phố A, phường V được coi là nơi cư trú cuối cùng của ông D1, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T căn cứ vào Điều 177, 179 của Bộ luật tố tụng dân sự thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Quốc D1 tại địa chỉ khu phố A, phường V, thành phố P - T.

[3] Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Ngày 16/9/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

[4] Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn ông Nguyễn Quốc D1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Nguyễn Quốc D1, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[5.1] Về tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/11/2022 và Bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, thu nhập của ông D1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Chủ thể ký kết hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, hình thức, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/11/2022 được coi là hợp pháp, có hiệu lực.

[5.2] Về mức lãi suất: Ngân hàng áp dụng mức lãi suất thỏa thuận trong hạn 2.77%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Xét thấy, mức lãi suất Ngân hàng áp dụng để tính lãi nợ vay của ông Nguyễn Quốc D1 là sự thoả thuận giữa hai bên phù hợp với quy định tại khoản 1 và Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên chấp nhận.

[5.3] Về phí dịch vụ thẻ: Căn cứ Điều 2 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng cung cấp quy định cụ thể về trách nhiệm thanh toán của chủ thẻ, căn cứ các biểu phí đã được Ngân hàng niêm yết công khai tại thời điểm ký hợp đồng với bị đơn thì các loại phí do ngân hàng áp dụng đối với hợp đồng tín dụng của bị đơn đã được thoả thuận giữa hai bên phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[5.4] Đối với yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc: Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Quốc D1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ, ông D1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 16.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông D1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 0 đồng. Sau khi trừ hết các khoản theo quy định trong quá trình sử dụng thẻ thì ông D1 còn nợ số tiền gốc là 17.440.000 đồng.

Đối với yêu cầu thanh toán số tiền nợ lãi: Ông D1 sử dụng thẻ từ tháng 12 năm 2022 đến tháng 03 năm 2023 nhưng không thanh toán cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông D1 không có thiện chí trả nợ. Do ông D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 25/4/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Lãi suất quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 17.440.000 đồng là 150% lãi suất trong hạn theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tính từ ngày 25/4/2023 đến ngày 17/9/2024, số tiền lãi quá hạn là: 6.906.676 đồng.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”.

Căn cứ khoản 3 Điều 6 và khoản 2 Điều 22 của Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng quy định về phí dịch vụ thẻ ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định như sau: “Tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ phải công bố các loại phí và mức phí cho bên phải trả phí trước khi bên phải trả phí sử dụng dịch vụ” và quy định nghĩa vụ của chủ thẻ như sau: “Thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho tổ chức phát hành thẻ các khoản phí, tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ”.

Xét điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S quy định tại Điều 2 về trách nhiệm thanh toán của chủ thẻ.

Ngày 25/4/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, với mức lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn (Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Xét việc Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã áp dụng mức lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và cách tính các khoản lãi dựa vào các thỏa thuận đã ký kết trong hợp đồng đối với khách hàng là phù hợp các quy định của Ngân hàng N1 về việc cho vay của tổ chức tín dụng thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S buộc ông Nguyễn Quốc D1 trả nợ đối với số tiền tính đến ngày 17/9/2024 số tiền: 24.346.676 đồng; trong đó, nợ gốc: 17.440.000 đồng ; nợ lãi quá hạn 6.906.676 đồng và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 18/9/2024 trên số nợ gốc theo lãi suất hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả dứt nợ vay.

[6] Tại phiên tòa hôm nay, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

[7] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

[8]Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 280, Điều 398, Điều 463, 466, 468 và Điều 470, Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Nguyễn Quốc D1.

    Xác nhận ông Nguyễn Quốc D1 còn nợ và buộc ông Nguyễn Quốc D1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/11/2022 tính đến ngày 17/9/2024 số tiền: 24.346.676 đồng (Hai mươi bốn triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi sáu đồng); trong đó, nợ gốc: 17.440.000 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm bốn mươi đồng) ; Lãi quá hạn 6.906.676 đồng (Sáu triệu chín trăm lẻ sáu nghìn sáu trăm bảy mươi sáu đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Quốc D1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Về án phí: Ông Nguyễn Quốc D1 phải chịu 1.217.000 đồng (Một triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 554.941 đồng (Năm trăm năm mươi bốn nghìn chín trăm bốn mươi mốt đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T theo biên lai thu số: 0002646 ngày 04 tháng 5 năm 2024.

  3. Về quyền yêu cầu thi hành án:

    Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPPRTC;
  • - CCTHADS TP.PR-TC;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 65/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger