|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU TP.ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày 12 tháng 9 năm 2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Nga
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Công Tâm
2. Ông Phạm Xoa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 107/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thái Minh A - sinh năm 1993. Địa chỉ: E đường K, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng. (có mặt).
* Bị đơn: Ông Trịnh Ngọc Q - sinh năm: 1993. Địa chỉ: C T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, bản tự khai, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thái Minh A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Q tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29, ngày 30.3.2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ C T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống, ông bà bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông bà không tìm được tiếng nói chung mặc dù bà và ông Q đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.
- Về con chung: Bà xác định bà và ông Trịnh Ngọc Q có 01 con chung tên là Trịnh Minh Đ, sinh ngày 27.7.2020. Ly hôn, bà yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung cho bà là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, yêu cầu ông Trịnh Ngọc Q cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thái Minh A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên hòa giải ngày 25.7.2024, bị đơn ông Trịnh Ngọc Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với trình bày của bà A về thời gian kết hôn, địa điểm kết hôn và nơi chung sống của vợ chồng sau khi kết hôn.
Trong quá trình chung sống, ông xác định vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Nay bà A yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông thì ông xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài không thể hàn gắn nên thống nhất thuận tình ly hôn với bà A.
- Về con chung: Ông xác định ông và bà A có 01 con chung tên là Trịnh Minh Đ, sinh ngày 27.7.2020. Hiện nay, ông và bà A chưa thống nhất được về việc ai sẽ là người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn nên ông chưa có ý kiến trình bày về vấn đề con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trịnh Ngọc Q không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi Tòa án thụ lý cho đến trước khi HĐXX vào nghị án là đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của bà Nguyễn Thái Minh A đối với ông Trịnh Ngọc Q, giao con chung Trịnh Minh Đ, sinh ngày 27.7.2020 cho bà Nguyễn Thái Minh A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Ông Trịnh Ngọc Q cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa hôm nay, ông Trịnh Ngọc Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Trịnh Ngọc Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thái Minh A và ông Trịnh Ngọc Q tự nguyện kết hôn vào năm 2020, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thái Minh A đối với ông Trịnh Ngọc Q, HĐXX thấy:
Theo lời khai của bà A thì thấy quá trình chung sống giữa bà A và ông Q đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân. Tại phiên tòa hôm nay, ông Trịnh Ngọc Q vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q cũng thừa nhận vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Nay bà A xin ly hôn, ông Q cũng thống nhất ly hôn. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn giữa bà A và ông Q đã thực sự xảy ra trong một thời gian dài, vợ chồng đã sống ly thân, hôn nhân thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A đối với ông Q là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam.
- Về con chung: HĐXX xét thấy: Bà A và ông Q đều có công việc và thu nhập ổn định. Xét về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con thì cả bà A và ông Q đều đảm bảo. Tuy nhiên hiện nay cháu Trịnh Minh Đ còn nhỏ tuổi nên rất cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Cháu Trịnh Minh Đ hiện đang chung sống cùng bà A và do bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, HĐXX thấy yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà A là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận, cần giao cháu Trịnh Minh Đ cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, ông Q cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Sau ly hôn, các bên đương sự vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Sau này, vì quyền lợi của con chung các bên đương sự vẫn có quyền yêu cầu hoặc thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà A và ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà A phải chịu.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- - Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 điều 147, điều 180, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự
- - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của bà Nguyễn Thái Minh A đối với ông Trịnh Ngọc Q.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Xử: cho bà Nguyễn Thái Minh A được ly hôn đối với ông Trịnh Ngọc Q.
2. Về con chung:
Xử: Giao con chung Trịnh Minh Đ, sinh ngày 27.7.2020 cho bà Nguyễn Thái Minh A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Ông Trịnh Ngọc Q cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Sau ly hôn, các bên đương sự vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Sau này, vì quyền lợi của con chung các bên đương sự vẫn có quyền yêu cầu hoặc thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Kể từ ngày bà Nguyễn Thái Minh A có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Trịnh Ngọc Q không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ bà Nguyễn Thái Minh A phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thái Minh A đã nộp tại Biên lai thu số 0000170 ngày 11/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thái Minh A đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4. Án xử sơ thẩm công khai, bà Nguyễn Thái Minh A có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Trịnh Ngọc Q vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết tại địa phương.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Thanh Nga |
Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Thái Minh A yêu cầu ly hôn đối với ông Trịnh Ngọc Q
