|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/DS-ST Ngày: 29 - 8 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc T
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Sơn M
- 2. Ông Lương Phi H
- Thư ký phiên tòa: Ông Ứng Văn T – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn H – Kiểm sát viên
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 179/2024/QĐST-DS, ngày 30/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1950
Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Diễm T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ A, Khóm D, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Có mặt.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng T1, sinh năm 1984
Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện ngày 24/7/2023 và qua quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị L có bà Phạm Diễm T đại diện theo ủy quyền trình bày: Trước đây bà L có thửa đất số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích 878.7m², loại đất đất ở 300m², đất trồng cây lâu năm 578,7m², tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long do bà đứng quyền sử dụng đất, nguồn gốc đất là của vợ chồng bà tạo dựng ra, hiện nay chồng bà L đã chết.
Trước đây, bà sống với Nguyễn Thị Mộng T1 và T1 hứa chăm sóc cho bà lúc tuổi già. Do quá tin tưởng vào lời hứa của con gái nên bà đã âm thầm không cho các con bà hay mà chỉ cùng với Nguyễn Thị Mộng T1 đến phòng C, thị xã B để làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất, thửa số 22 cho Nguyễn Thị Mộng T1, có phần mộ chôn cất của chồng bà.
Khi nhận tặng cho thửa đất số 22 xong thì Nguyễn Thị Mộng T1 đã không thực hiện theo lời hứa là chăm sóc bà L lúc tuổi già đau yếu mà ngược lại còn có hành vi ngược đãi, đánh đập, chửi bới xúc phạm danh dự bà nhiều lần và không chăm sóc cho bà. Đã có nhiều người dân xung quanh chứng kiến và có mời công an xã T lập biên bản sự việc trên.
Nay bà Đặng Thị L yêu cầu giải quyết như sau:
- Bà Đặng Thị L yêu cầu Nguyễn Thị Mộng T1 trả lại cho bà L thửa đất số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích 778.7 m² trong đó loại đất ở là 300m², đất trồng câu lâu năm là 578.7m², tọa lạc tại xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
- Bà Đặng Thị L yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích 778.7m² trong đó loại đất ở là 300m², đất trồng câu lâu năm là 578.7m², tọa lạc tại xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long do Nguyễn Thị Mộng T1 đứng tên.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
* Bà Phạm Diễm T đại diện ủy quyền cho bà Đặng Thị L trình bày: Bà L có đứa con gái tên Nguyễn Thị Mộng T1, vào khoảng năm 2021, bà T1 dùng lời ngon ngọt để lừa bà L ký hợp đồng tặng cho thửa đất số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích thực đo là 894.2m², tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, bà T1 hứa sẽ chăm sóc bà L lúc tuổi già. Nhưng sau khi ký hợp đồng tặng cho và bà T1 được đứng giấy chứng nhận thì trở mặt với bà L, nhiều lần bà T1 chửi mắn bà L, có những người chung xóm biết việc này. Hiện tại trên thửa đất có một ngôi mộ của chồng bà L, nên bà L muốn công nhận lại thửa đất cho bà L để làm đất hương quả, với lý do bà L bị lừa dối. Nay bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho ngày 08/4/2021 được ký kết giữa bà Đặng Thị L với bà Nguyễn Thị Mộng T1, công nhận cho bà L được quyền sử dụng thửa đất số số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích thực đo là 894.2m², tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, bà L đồng ý nộp toàn bộ chi phí khảo sát, đo đạc và định giá.
* Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng:
+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ theo quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng đúng thành phần và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu của bà Đặng Thị L yêu cầu Nguyễn Thị Mộng T1 trả lại cho bà thửa đất số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích 878,7m², loại đất ở 300m², loại đất trồng cây lâu năm 578,7m², tọa lạc ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long là có cơ sở để chấp nhận. Bởi vì, theo nội dung vụ án trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 08/04/2021 tại Phòng C, tỉnh Vĩnh Long giữa bà Đặng Thị L với Nguyễn Thị Mộng T1 không ghi điều kiện tặng cho, nhưng qua lời khai của các đương sự, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và điều kiện hoàn cảnh sống của bà Đặng Thị L, thì việc tặng cho quyền sử dụng đất từ bà Đặng Thị L cho bà Nguyễn Thị Mộng T1 là tặng cho có điều kiện. Bà Nguyễn Thị Mộng T1 phải có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cho bà L. Nguyễn Thị Mộng T1 đã không nuôi dưỡng, chăm sóc bà Đặng Thị L hiện nay bà sống nhờ nhà người con khác. Như vậy, Nguyễn Thị Ngọc T2 đã không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ là bà Đặng Thị L, nên không thỏa mãn điều kiện để tặng cho theo quy định tại Điều 462 Bộ luật dân sự năm 2015, nên cần vô hợp đồng lập ngày 08/04/2021 giữa bà Đặng Thị L với Nguyễn Thị Mộng T1, để trả lại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích 878,7m², loại đất ở 300m², loại đất trồng cây lâu năm 578,7m², tọa lạc ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long cho bà Đặng Thị Lệ.
Theo quy định tại Điều 462 Bộ luật dân sự “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại...”.
Biên bản lấy lời khai của đương sự Nguyễn Văn T3 (là con của bà Đặng Thị L), ngày 28/8/2024 có nội dung: T1 là con gái của bà L, vào khoảng năm 2021 T1 dùng lời ngon ngọt để kêu bà L chuyển nhượng thửa đất số 22, tọa lạc ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long cho T1, T1 hứa với bà L là sẽ phụng dưỡng lo cho mẹ lúc tuổi già, nhưng sau khi được nhận chuyển nhượng thì T1 có hành vi bất hiếu là chửi mắn mẹ, còn thưa mẹ chiếm đất tại thửa đất đã tặng cho T1, T1 rất nhiều lần chửi mắn mẹ, hàng xóm gần nhà ai cũng biết. Áp dụng nội dung án lệ số 14/2017/AL, ngày 14/12/2017 thì việc tặng cho quyền sử dụng đất từ bà L cho Nguyễn Thị Mộng T1 là tặng cho có điều kiện. Từ lúc nhận đất đến nay, T1 không có lo lắng chăm sóc cho mẹ. Phần đất tranh chấp hiện nay có một phần mộ của cha ông trên đất, nên mẹ ông muốn lấy lại để làm đất mộ của gia tộc.
Bị đơn Nguyễn Thị Mộng T1: đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, vắng mặt nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho sự phản đối của mình.
Căn cứ khoản 2 khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự: “2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.”
- Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu của bà Đặng Thị L nên buộc Nguyễn Thị Mộng T1 chịu 300.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí khảo sát, đo đạc và định giá là 4.280.000 đồng, bà L đồng ý nộp toàn bộ và bà L đã nộp xong.
Cuối cùng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 97, Điều 98 Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 116, Điều 117, Điều 120, Điều 122, Điều 462 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Điều 166, Điều 167, Điều 168 Luật đất đai năm 2013;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án lệ số 14/2017/AL, ngày 14/12/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Lệ.
Vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Đặng Thị L với bà Nguyễn Thị Mộng T1 ngày 08/4/2021 đối với thửa đất số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích thực đo 894.2m², tọa lạc ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Buộc bà Nguyễn Thị Mộng T1 trả lại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích thực đo 894.2m², tọa lạc ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long cho bà Đặng Thị Lệ.
Bà Đặng Thị L được quyền liên hệ cơ quan nhà nước đăng ký kê khai theo quy định.
- Về án phí: buộc Nguyễn Thị Mộng T1 chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: Bà L đồng ý nộp toàn bộ và bà L đã nộp xong nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về trình tự thủ tục tố tụng
Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không rõ lý do, Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì. Do đó, căn cứ theo khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì việc vắng mặt của các đương sự là không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị L, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tại Công văn số 1136/CNVPĐKĐĐ, ngày 23/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B xác định: Nguồn gốc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích thực đo là 894.2m², tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long là do bà Đặng Thị Lệ N thừa kế từ chồng là ông Nguyễn Văn B và được cấp giấy chứng nhận vào ngày 28/6/2010.
Ngày 08/4/2021 bà Đặng Thị L đã lập hợp đồng tặng cho bà Nguyễn Thị Mộng T1.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 21/11/2023 đối với bà Đặng Thị L, bà trình bày: Thửa đất đất số 22 là của vợ chồng bà, chồng bà là ông Nguyễn Văn B chết năm 2008 và được an táng trên thửa đất 22. Đến năm 2021 thì T1 dụ dỗ bà ký hợp đồng tặng cho thửa đất này, T1 nói mở tiệm buôn bán. Khi ký hợp đồng thì bà chỉ nghĩ là giấy để bà T1 được cất nhà thôi. Nhưng sau khi nhận tặng cho thì T1 thường xuyên ngược đãi bà, dùng lời lẽ xúc phạm bà, có lần T1 đã kiện bà tại Tòa án, còn hâm sau khi bà chết sẽ giục bà dưới cầu C không cho chôn trên thửa đất này.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/01/2024 và Kết quả đo đạc hiện trang khu đất thể hiện trên thửa đất số 22 có một ngôi mồ của ông Nguyễn Văn B nằm giữa vị trí đất.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 28/8/2024 đối với ông Nguyễn Văn T3 trình bày: Tuyền là con gái của bà L, vào năm 2021 thì T1 dùng lời ngon ngọt để dụ dỗ bà L tặng cho thửa đất số 22. Tuyền hứa sau khi nhận đất sẽ phụng dưỡng bà L lúc tuổi già, nhưng T1 lại có hành vi chửa mắn, còn thưa kiện bà L chiếm đất tại thửa đất số 22. Việc T1 có hành vi chửi mắn bà L thì mọi người xung quanh nhà đều biết.
Từ những chứng cứ nêu trên cho thấy, bà Đặng Thị L sinh năm 1950, nên vào thời điểm kí hợp đồng tặng cho bà Nguyễn Thị Mộng T1 thửa đất số 22 thì bà L đã 71 tuổi, là thuộc trường hợp người cao tuổi xác lập giao dịch dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà L đều trình bày bà T1 có hành vi chửi mắn, xúc phạm danh dự của bà, điều này được thể hiện tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/8/2024 đối với ông Nguyễn Văn T3.
Hợp đồng tặng cho giữa bà Đặng Thị L với bà Nguyễn Thị Mộng T1 là hợp đồng có điều kiện. Theo Án lệ số 14/2017/AL, ngày 14/12/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì bà T1 không thực hiện cam kết với bà L là sẽ chăm sóc phụng dưỡng bà L, nên bà T1 đã vi phạm hợp đồng.
Thêm nữa, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà Nguyễn Thị Mộng T1 rất nhiều lần và đã yêu cầu bà T1 cung cấp chứng cứ là ý kiến của bà đối với yêu cầu khởi kiện của bà L nhưng bà T1 vẫn không đến Tòa án và cũng không có văn bản nào trình bày ý kiến của mình. Do đó, bà đã không thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định bà Đặng Thị L đã bị lừa dối khi xác lập hợp đồng dân sự theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật dân sự. Từ đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị L, vô hiệu hợp đồng tặng cho ngày 08/4/2021 được ký kết giữa bà Đặng Thị L với bà Nguyễn Thị Mộng T1, công nhận cho bà L được quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích thực đo là 894.2m², tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Bà Đặng Thị L được quyền kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
[3] Về chi phí khảo sát, đo đạc và định giá:
Tổng chi phí là 4.280.000 đồng, bà L đồng ý tự nguyện nộp toàn bộ, bà L đã nộp xong nên không đặt ra giải quyết.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị Mộng T1 phải nộp 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 97; Điều 98; Điều 147, Điều 156; Điều 157; Điều 158; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Các Điều 116; Điều 117; Điều 120; Điều 122 và Điều 462 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Các Điều 166; Điều 167 và Điều 168 Luật đất đai năm 2013;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án lệ số 14/2017/AL, ngày 14/12/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
-
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Lệ.
Vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/4/2021 được ký kết giữa bà Đặng Thị L với bà Nguyễn Thị Mộng T1.
Công nhận cho bà Đặng Thị L được quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 7, diện tích thực đo là 894.2m², tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, gồm các mốc 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-1 (Kèm theo Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 01/4/2024).
Bà Đặng Thị L được quyền kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí khảo sát, đo đạc và định giá: Tổng chi phí 4.280.000 đồng. Ghi nhận việc bà Đặng Thị L tự nguyện nộp toàn bộ, bà L đã nộp xong, nên không đặt ra giải quyết.
-
Về án phí sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Mộng T1 phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc T |
Bản án số 64/2024/DS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 64/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LỆ - TUYỀN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TẶNG CHO
