|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2024/HS-ST
Ngày 04-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Mạnh Hùng và bà Hoàng Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Vũ Duy Đ, sinh năm 1990 tại T, Hà Nội;
Nơi cư trú: KDC C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Vũ Duy T và bà Lê Thị T1; vợ là Tăng Thị H, sinh năm 1990 (Đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định số 420 ngày 13/9/2005 của chủ tịch UBND huyện C (nay là thành phố C) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Vũ Duy Đ, thời hạn 12 tháng. Đ đã chấp hành xong ngày 01/7/2006.
Bị tạm giữ ngày 13/4/2024, chuyển tạm giam ngày 15/4/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; Có mặt.
2. Nguyễn Văn N, sinh năm 1990 tại C, Hải Dương;
Nơi cư trú: KDC T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị M (Đều đã chết); vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ ngày 13/4/2024, chuyển tạm giam ngày 15/4/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1981; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ, ngày 12/4/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Vũ Duy Đ đi xe khách từ nhà đến khu vực cầu B thuộc thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh gặp và mua 300.000đồng tiền ma tuý của một người phụ nữ không rõ nhân thân, lý lịch được 01 túi ma túy được đựng trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ rồi Đ đi xe khách về nhà Nguyễn Văn N ở khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương chơi. Đ và N ngồi chơi đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì Đ nhìn thấy ở dưới gầm bàn bếp có 01 coóng thủy tinh nên nảy sinh ý định sử dụng ma túy cùng với N. Đ hỏi N “có cái chai không”, (ý Đ hỏi N có chai nhựa cắm ống hút để lắp vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy không). Do trước đó N đã nhặt được một bộ dụng cụ sử dụng ma túy và tháo coóng thủy tinh để dưới gầm bàn bếp; chai nhựa, ống hút để dưới ngăn gầm bếp nên N trả lời “ở dưới gầm bếp đấy, đi mà tìm”. Đ mở ngăn gầm bếp thấy một vỏ chai nhựa màu trắng, nhãn hiệu Sting, phần nắp chai được đục 02 lỗ, một lỗ được cắm ống hút (gồm 03 ống hút nối với nhau thành 01 ống hút dài). Đ lấy cóong thủy tinh cắm vào chai nước để tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi đổ túi ma túy Đ mua được vào trong cóong thủy tinh. Sau đó, Đ hỏi N có sử dụng ma túy không thì N không sử dụng nên Đ tự dùng bật lửa gas (có sẵn trong bếp nhà N) đốt nóng ma túy và sử dụng rồi để bộ dụng cụ sử dụng ma túy (bên trong còn chứa ma túy) và vỏ bao thuốc lá chứa túi ni lông đựng ma túy ở mặt nền phòng bếp (giáp với tường) cách chỗ N đang đứn khoảng 2,5 mét rồi đi lên phòng khách ngồi xem ti vi. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Đ bảo N “xuống sử dụng ma túy” thì N đi xuống bếp lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra cùng Đ sử dụng ma túy. Đến 00 giờ 30 phút, ngày 13/4/2024, Công an thành phố C kiểm tra nhà N thì Đ cầm vỏ bao thuốc lá chứa vỏ túi ni lông đựng ma túy vứt ở bậc cửa thứ nhất đi vào cửa chính nhà N và tháo bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra rồi vất vào bệt vệ sinh trong phòng tắm và thùng rác nhà N. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản thu giữ tại trong bệt vệ sinh phòng tắm nhà N: 01 cóong thủy tinh, chiều dài 4cm, phần bầu cóong thủy tinh bị vỡ làm 02 mảnh, bên trong bầu cóong thủy tinh có chất cặn màu đen được niêm phong trong phong bì đánh số (2), 01 ống hút nhựa màu vàng, chiều dài 12,5cm; Thu giữ trong thùng đựng rác phòng bếp nhà N: 01 vỏ chai nhựa màu trắng, nhãn hiệu Sting, chiều cao 20cm, đường kính mặt đáy 5cm, phần nắp chai màu đỏ được đục 02 lỗ, một ống hút nhựa màu trắng chiều dài 19cm, một ống hút nhựa màu tím, chiều dài 16cm; Thu giữ tại bậc thứ nhất đi vào cửa chính nhà N (cạnh chậu quất) một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu đỏ bên trong chứa túi ni lông màu trắng, kích thước (1,5x1,8)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì đánh số (1). Ngoài ra N tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an một chiếc bật lửa gas, màu đỏ.
Tại bản kết luận giám định số: 217/KL-KTHS, ngày 13 tháng 4 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận:
Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi ni lông màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu số (1) gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu chất rắn màu đen bám dính bên trong cóong thủy tinh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu số (2), gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKS-CL ngày 29/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố các bị cáo Vũ Duy Đ, Nguyễn Văn N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX:
Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với tất cả các bị cáo.
Tuyên bố các bị cáo Vũ Duy Đ, Nguyễn Văn N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Duy Đ từ 25 - 28 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/4/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 24 - 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/4/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 01 vỏ túi ni lông màu trắng, 01 vỏ phong bì ký hiệu số 01 niêm phong mẫu vật gửi giám định được đựng trong 01 phong bì số 217/KL-KTHS, ký hiệu T1; 01 coóng thủy tinh phần bầu coóng đã bị vỡ, 01 vỏ phong bì ký hiệu số 02 niêm phong mẫu vật gửi giám định được đựng trong 01 phong bì số 217/KL-KTHS, ký hiệu T2; 01 chai nhựa màu trắng, nhãn hiệu Sting, cao 20cm, nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu vàng, chiều dài 12,5cm, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu trắng chiều dài 19cm, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu tím chiều dài 16cm một đầu bọc một đoạn nhựa màu vàng, đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu đỏ, đã qua sử dụng.
Về án phí: Các bị cáo Vũ Duy Đ, Nguyễn Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản cáo trạng và đồng ý với lời luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản làm việc, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 12/4/2024, tại phòng bếp nhà Nguyễn Văn N ở khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Vũ Duy Đ là người đi mua ma túy, lắp ráp bộ dụng cụ sử dụng ma túy do N chuẩn bị từ trước sau đó, Đ rủ N cùng nhau sử dụng ma túy, loại Methamphetamine đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 13/4/2024 thì bị lực lượng công an phát hiện.
[3] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chuẩn bị địa điểm, cung cấp ma túy, dụng cụ để các bị cáo cùng sử dụng trái phép chất ma túy là những hành vi vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Đ là người đề xuất, cung cấp ma tuý, lắp ráp bộ dụng cụ sử dụng ma túy; bị cáo N chuẩn bị công cụ, địa điểm để cả 02 bị cáo cùng sử dụng ma tuý, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[6] Đây là vụ án đồng phạm, bị cáo Đ là người đề xuất, cung cấp ma tuý, lắp ráp bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên bị cáo Đ giữ vai trò đầu vụ, bị cáo N là cung cấp địa điểm, bộ dụng cụ ma tuý nên bị cáo N giữ vai trò thứ hai.
[7] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Việc tổ chức sử dụng ma túy còn là mầm mống làm phát sinh một số loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng nặng nề cho sức khỏe của con người và kinh tế của gia đình người sử dụng nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo Đ có nhân thân xấu. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: 01 coóng thủy tinh, phần bầu coóng đã bị vỡ, 01 chai nhựa màu trắng nhãn hiệu Sting, cao 20cm, 01 ống hút nhựa màu vàng, chiều dài 12,5cm, 01 ống hút nhựa màu trắng chiều dài 19cm, 01 ống hút nhựa màu tím chiều dài 16cm, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu đỏ đều là công cụ sử dụng vào việc phạm tội; 01 vỏ túi ni lông màu trắng và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, đều không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Các vấn đề khác:
[10.1] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Vũ Duy Đ không xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có căn cứ xử lý.
[10.2] Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Duy Đ, Nguyễn Văn N, Công an Thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.
[11] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với tất cả các bị cáo.
Tuyên bố các bị cáo Vũ Duy Đ, Nguyễn Văn N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Duy Đ 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/4/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 25 (Hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/4/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 01 vỏ túi ni lông màu trắng, 01 vỏ phong bì ký hiệu số 01 niêm phong mẫu vật gửi giám định được đựng trong 01 phong bì số 217/KL-KTHS, ký hiệu T1; 01 coóng thủy tinh phần bầu coóng đã bị vỡ, 01 vỏ phong bì ký hiệu số 02 niêm phong mẫu vật gửi giám định được đựng trong 01 phong bì số 217/KL-KTHS, ký hiệu T2; 01 chai nhựa màu trắng, nhãn hiệu Sting, cao 20cm, nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu vàng, chiều dài 12,5cm, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu trắng chiều dài 19cm, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu tím chiều dài 16cm một đầu bọc một đoạn nhựa màu vàng, đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu đỏ, đã qua sử dụng (Toàn bộ vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2024 giữa cơ quan điều tra Công an thành phố C và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).
Về án phí: Các bị cáo Vũ Duy Đ, Nguyễn Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Luyến |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ss
