TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày 20 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Giáp Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Duy Cường
- Ông Nguyễn Hữu Thái
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Thị K, sinh năm 1977. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ.
Nơi cư trú: Thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; T: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 0/12. Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Bố đẻ: Lý Văn T, sinh năm 1959. Mẹ đẻ: Lục Thị T1 (đã chết). Chồng: Tống Văn P, sinh năm 1972. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 1998. Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Thân Thị Thúy V, bà Trần Thu T2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Bà T2 có mặt, bà V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị hại: Ông Nguyễn Bá L, sinh năm 1951 (Đã chết).
1
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện hợp pháp cho người bị hại:
- Anh Nguyễn Bá K1, sinh năm 1974 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Tống Thị L1, sinh năm 1958 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người làm chứng:
- Chị Phạm Thị Kim N, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Thị K có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định. Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 28/11/2023, Lý Thị K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1-201.83 chở sau bà Tống Thị L1, sinh năm 1958 ở cùng thôn đi từ thị trấn Đ, huyện L theo đường T để về nhà tại thôn V, xã L, huyện L. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày K điều khiển xe mô tô đi đến Km 49+80 đường Tỉnh lộ 293 thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Lúc này, K điều khiển xe mô tô đi ở phần đường bên phải theo chiều đi của mình (hướng xã V đi xã L) và đi với tốc độ khoảng 40 km/h. K quan sát phía trước cách khoảng 30m thấy ông Nguyễn Bá L, sinh năm 1951 trú tại thôn Đ, xã T, huyện L đang ngồi trên xe mô tô biển kiểm soát 98H8-7682 đỗ ở rìa đường phải theo chiều đi của K, đầu xe mô tô hướng xã L, đuôi xe hướng xã V, trước cửa nhà chị Phạm Thị Kim N, sinh năm 1992 trú tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cùng lúc này, K thấy ông L điều khiển xe mô tô đi từ mép cổng nhà chị N ra đường T và hướng sang phần đường bên trái, thấy vậy, K tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về phía trước, khi cách xe mô tô do ông L điều khiển khoảng 15m thì K thấy ông L dừng xe mô tô lại nên K đánh lái sang phải để tránh nhưng do khoảng cách gần nên xe mô tô do K điều khiển đã va chạm với xe mô tô của ông L. Hậu quả làm
2
ông L, bà L1 và K bị thương được đưa đi cấp cứu, xe mô tô hư hỏng. Đến ngày 29/11/2023 thì ông L bị tử vong.
Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F1-201.83; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98H8-7682; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Lý Thị K; 01 File video có tên “889259350674231508" dung lượng 2,68MB, thời lượng 30 giây từ camera an ninh của gia đình anh Dương Văn N1, sinh năm 1988, địa chỉ thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang và được in ra đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell.
*) Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra tai nạn giao thông đoạn Km 49+80 đường Tỉnh lộ 293 thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khám nghiệm hiện trường theo hướng xã V đi xã L. Đoạn đường thẳng, mặt đường phẳng trải bê tông rộng 11m, lề đất bên trái rộng 0,5m; lề đất, bê tông, vũng nước bên phải rộng 1,1m. Đoạn đường không có vạch kẻ đường, đoạn đường này nằm trong khu vực có biển cảnh báo nguy hiểm “W221b” (đường có gờ giảm tốc). Lấy mép đường phải theo hướng khám nghiệm làm mép chuẩn. Lấy cột mốc ký hiệu H1/49 bên phải đường làm mốc chuẩn.
- Ghi nhận, đánh số thứ tự vị trí các dấu vết: 01 (một) dấu vết mài trượt mặt đường, sạch bụi đất, bám dính vật chất màu đen, ký hiệu (1); 01 (một) dấu vết mài trượt mặt đường, bám dính vật chất màu đen, ký hiệu (2); 01 (một) dấu vết trượt xước mặt đường, bám dính vật chất màu đen, ký hiệu (3); 01 (một) dấu vết trượt xước mặt đường, ký hiệu (4).
- Đặc điểm, vị trí các dấu vết:
- + Dấu vết mài trượt mặt đường, sạch bụi đất, bám dính vật chất màu đen, ký hiệu (1) dạng đơn, liên tục, kích thước (390 x 06)cm, đầu vết phía xã V, đuôi vết phía xã L. Điểm đầu vết cách mép chuẩn 1,05m, cách mốc chuẩn 18,9m, cách cột biển cảnh báo nguy hiểm “W221b” (bên phải đường) 10,5m. Điểm cuối cách mép chuẩn 1,1m.
- + Dấu vết mài trượt mặt đường, bám dính vật chất màu đen, ký hiệu (2) dạng đơn, liên tục, kích thước (140 x 09)cm, đầu vết phía xã V, đuôi vết phía xã L. Điểm đầu vết cách mép chuẩn 1,45m, cách điểm đầu vết (1) là 2,13m. Điểm cuối cách mép chuẩn 1,1m.
3
- + Dấu vết trượt xước mặt đường, bám dính vật chất màu đen, ký hiệu (3) dạng chùm không liên tục, kích thước (132 x 65)cm, đầu vết phía xã V cách mép chuẩn 2,01m, cách đầu vết (2) là 1,17m. Đầu vết phía xã L cách mép chuẩn là 2,54m.
- + Dấu vết trượt xước mặt đường, ký hiệu (4) dạng chùm không liên tục. kích thước (430 x 47) cm, đầu vết phía xã V, đuôi vết phía xã L. Điểm đầu vết trùng với điểm cuối vết (1) cách mép chuẩn 1,1m, cách điểm cuối vết (2)1,85m. Điểm cuối vết sát mép chuẩn (BL 41-42).
*) Khám nghiệm phương tiện:
- - Xe mô tô biển kiểm soát 98H8-7682: Mặt trên chắn bùn sau có dấu vết trượt xước chùi sạch bụi bẩn dạng các đường song song, chiều hướng từ sau về trước, kích thước (9,5 x 8)cm, điểm thấp nhất cách đất 39cm, điểm cao nhất cách đất 42cm; Mặt ngoài biển số có các dấu vết trượt xước, bám dính vật chất dạng bụi đất màu vàng cam, kích thước (15 x 5)cm, điểm thấp nhất cách đất 47cm, điểm cao nhất cách đất 5 cm, dấu vết có chiều hướng từ sau về trước, biển số bị cong vênh biến dạng, cạnh ngoài bên trái biển số có dấu vết trượt xước, bám dính vật chất màu xanh lơ, kích thước (7 x 0,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 48cm, điểm cao nhất cách đất 53cm; Mặt ngoài má lốp bên trái bánh sau có dấu vết trượt xước cao su in hằn các dạng vòng hình tròn đường kính 0,5cm, dấu vết trượt xước kích thước (3 x 0,5)cm chiều hướng từ tâm ra phía ngoài, đầu vết trùng với chữ “N” đầu tiên của dòng chữ “NYLON” ký hiệu (1); Mặt ngoài má lốp bên trái bánh sau có dấu vết trượt xước in hằn dạng hình cạnh lục giác, một cạnh lục giác kích thước 0,6cm, dấu vết trượt xước kích thước (4 x 1,7)cm, chiều hướng từ tâm trục ra phía ngoài, ký hiệu vết (2). Vết (2) và vết (1) dạng song song với nhau. Vết (2) cách vết (1) là 7,5cm, theo chiều hướng tiến của bánh xe. Trên mặt lăn lốp giữa vết (1) và vết (2) có vết trượt xước hình thước (11 x 2)cm; Khung kim loại bảo vệ cụm đèn tín hiệu sau đẩy xô lệch khỏi vị trí cố định, chiều hướng từ sau về trước, từ trái qua phải, trên có rải rác bám dính vật chất màu trắng, xanh; Ốp nhựa bảo vệ cụm đèn tín hiệu sau và đuôi xe bị bung bật, nứt vỡ, kích thước (30 x 17)cm; Mặt ngoài ốp nhựa đuôi xe bên trái và phía trên bên trái chắn bùn bánh sau có rải rác dấu vết trượt xước, trên có rải rác bám dính vật chất màu trắng kích thước (19 x 14)cm, dấu vết có chiều hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 63cm, điểm cao nhất cách đất 75cm; Mặt
4
- trượt gáo gương chiếu hậu bên trái có dấu vết trượt xước kích thước (12 x 5)cm; Đầu để chân trước bên trái bị xô lệch khỏi vị trí cố định từ trước về sau, đầu để chân rách cao su hở kim loại, đầu kim loại có dấu vết trượt xước, kích thước (1,5 x 1)cm; Đầu thanh kim loại chân chống giữa bên trái có dấu vết trượt xước, kích thước (1 x 0,3)cm.
- - Xe mô tô biển kiểm soát 98F1-201.83: Mặt ngoài má lốp bên trái bánh trước có dấu vết trượt xước kích thước (12x4)cm, chiều hướng ngược chiều tiến bánh xe, từ ngoài vào tâm trục, điểm đầu của vết trùng với chữ “T” của dòng ký tự “TYPE” trên má lốp trái; Đầu ốc điều chỉnh tay phanh bánh trước bị xô lệch khỏi vị trí cố định chiều hướng từ trong ra ngoài, đầu ốc chùi sạch bụi bẩn trên có bám dính vật chất màu đen, đầu ốc có đường kính 0,5cm, cao cách đất 18,5cm; Đầu ốc hình lục giác cách đầu ốc điều chỉnh dây phanh bánh trước 7,5cm về phía trên có dấu vết chùi sạch bụi bẩn, bám dính vật chất màu đen, kích thước (1,2x1,2)cm cạnh ốc hình lục giác kích thước 0,6cm, cao cách đất 25,6cm; Mặt trước thanh kim loại giữa ốc hình lục giác và ốc hình tròn điều chỉnh phanh bánh trước có dấu vết chùi sạch bụi bẩn, kích thước (9x2)cm; Mặt trước trục cố định giữa trục bánh trước và thanh giảm sóc trước bên trái có dấu vết trượt xước chùi sạch bụi bẩn kích thước (2,5x1)cm, tâm vết cách đất 24cm; Mặt ngoài bên trái chắn bùn trước, bánh trước có rải rác các dấu vết trượt xước chùi sạch bụi bẩn bám dính rải rác vật chất màu đen, kích thước (13x2)cm, chiều hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 50cm, đểm cao nhất cách đất 56cm; Mặt ngoài cánh yếm bên trái có dấu vết trượt xước bám dính vật chất màu đen và xanh, kích thước (20x16)cm, chiều hướng từ trước về sau, vỡ khuyết một phần cánh yếm tại vùng này, điểm thấp nhất của vết cách đất 60cm, điểm cao nhất cách đất 75cm; Ốp nhựa phía trước đầu xe và cụm đèn tín hiệu trước bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (11x5)cm; Mặt trước giá đỡ gương chiếu hậu bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (2x1)cm; Mặt trước gáo gương chiếu hậu bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (9x4)cm; Đầu tay phanh bên phải có dấu vết trượt xước kim loại, kích thước (6x1)cm; Đầu để chân sau bên phải có dấu vết trượt xước kích thước (2,5x1,5)cm; Mặt ngoài ốp kim loại ống xả bên phải có dấu vết trượt xước kích thước (6x3)cm; Đầu tay nắm bên phải có dấu vết trượt xước kích thước (3x2)cm.
*) Khám nghiệm tử thi ông Nguyễn Bá L: Vùng đầu tóc đen cắt trung bình có điểm bạc, hai mắt khép không kín, lồng tử hai bên giãn to. Hai lỗ tai
5
khô. Hai lỗ mũi và khoang miệng có ít dịch đục; Vùng chẩm thái dương trái có diện sưng nề, kích thước (18x15)cm, trên diện vùng có vết sây sát da mất lớp thượng bì kích thước (4x2,5)cm; Mặt sau khuỷu tai trái có diện sây sát da bầm tím, kích thước (5x4)cm; Kiểm tra các cơ quan khác không phát hiện tổn thương; Kiểm tra khoảng miệng không có máu. Chọc hút khoang lồng ngực bằng bơm kim tiêm có ít dịch bọt, khoang ổ bụng có nhiều máu không đông.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của ông Nguyễn Bá L; giám định cơ chế hình thành dấu vết trên phương tiện và hiện trường, xác định vị trí va chạm, xác định tốc độ của phương tiện ngay trước khi tai nạn xảy ra; giám định video thu giữ. Tại kết luận giám định số 2452/KLGĐTT-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Bá L do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương bụng kín; Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương sưng nề, sây sát, bầm tím da được hình thành do tiếp xúc với vật tày, bề mặt không nhẫn tạo nên. Trong đó tổn thương gây tràn máu khoang ổ bụng; vỡ xương thái dương, tụ máu và chảy máu não được hình thành với các lực tác động mạnh tạo nên.
Tại Bản kết luận giám định số 178/KL-KTHS ngày 20/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận:
- - Dấu vết mài trượt cao su, sạch bụi đất, hướng ngược chiều chuyển động tiến ở má lốp bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98F1-201.83 (ảnh số 5 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước nhựa, in hằn khoảng vân màu đen (dạng vân lốp), hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải ở mặt ngoài chắn bùn sau của xe mô tô biển kiểm soát 98H8-7682 (ảnh số 5 bản ảnh khám phương tiện).
- + Dấu vết chùn cong, mài trượt kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su), hướng từ trước ra sau ở đầu ốc cố định dây phanh bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98F1-201.83 (ảnh số 6 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết rách, lõm thủng cao su, in hình tròn, hướng từ trái sang phải ở bên trái má lốp bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 98H8-7682 (ảnh số 9 bản ảnh khám phương tiện).
- + Dấu vết xước sơn nhựa, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài cánh yếm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98F1-206.83 (ảnh số 11 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước
6
- sơn nhựa, hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải ở sườn bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98H8-7682 (ảnh số 12, 13 bản ảnh khám phương tiện).
- - Dấu vết trượt xước, mài trượt mặt đường ký hiệu số 4 (ảnh số 21, 22 bản ảnh khám nghiệm hiện trường) được hình thành do vật tày cứng, tiếp xúc, mài trượt trên mặt đường theo hướng xã V đi xã L tạo nên.
- - Không xác định được vị trí va chạm của hai phương tiện trên mặt đường qua dấu vết cơ học (do hiện trường bị xáo trộn, phương tiện di chuyển khỏi hiện trường).
- - Không xác định được chiều hướng chuyển động và tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Tại Bản kết luận giám định số 2647/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong file video có tên “889259350674231508.mp4" dung lượng 2,68MB; thời lượng 00 phút 30 giây gửi giám định.
Trích xuất được 10 (mười) hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong các file video gửi giám định trên.
Tại thời điểm 14 giờ 37 phút 27 giây ngày 28/11/2023 thời gian thể hiện trên khung hình file video (thời gian này có thể thay đổi được trên hệ thống) xảy ra va chạm giữa hai phương tiện, không xác định được vị trí va chạm ở phần đường nào, do không có vạch kẻ đường.
Đối với bà Tống Thị L1 sau khi xảy ra tai nạn bà chỉ bị đau nhẹ, không bị thương tích, nên bà không có yêu cầu đề nghị.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết Lý Thị K đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 70.000.000 đồng. Đại diện gia đình nạn nhân (là anh Nguyễn Bá K1 đại diện cho gia đình nạn nhân) đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho K.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện L đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98F1-201.83 cho bà Tống Thị L1 (là chủ sở hữu); xe mô tô biển kiểm saost 98H8-7682 cho anh Nguyễn Bá K1 (là người đại diện cho gia đình nạn nhân); Còn 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số [...], Cơ quan điều tra chuyển xử lý cùng vụ án.
7
Tại Cơ quan điều tra, Lý Thị K thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại Bản Cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 20 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Lý Thị K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lý Thị K trình bày: Bị cáo giữ nguyên các lời khai tại cơ quan điều tra. Tai nạn xảy ra là ngoài ý muốn, bị cáo rất hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của mình. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo là đúng tội, không oan, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện hợp pháp cho người bị hại anh Nguyễn Bá K1 trình bày: Gia đình bị hại đã nhận số tiền bồi thường là 70.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm. Sự việc không ai mong muốn xảy ra, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tống Thị L1 trình bày: Bà giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, đến nay bị cáo K đã rất ân hận về hành vi vi phạm của minjh, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo - Bà Trần Thu T2 trình bày: Nhất trí nội dung truy tố và quan điểm luận tội của VKSND huyện Lục Nam. Về mức hình phạt, đề nghị mức 10 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án, giữ nguyên quyết định như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Thị K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
8
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giây phép lái xe mô tô hạng A1.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo đã bồi thường và xin lỗi gia đình bị hại. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người bào chữa cho bị cáo bà Thân Thị Thúy V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người làm chứng chị Phạm Thị Kim N được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra. Căn cứ lời khai của bị cáo, lời trình bày của đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 29/11/2023, Lý Thị K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F1-201.83 chở bà Nguyễn Thị L2 đi trên đường T hướng xã V đi xã L huyện L. Khi đi đến Km 49 + 80 đường Tỉnh lộ 293 thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ vi phạm Điều 12 Luật giao thông đường bộ nên đã để phần bánh xe mô tô phía trước do K điều khiển đâm vào phần bên trái đuôi xe mô tô do ông Nguyễn Bá L điều khiển đang sang đường. Hậu quả ông L tử vong.
9
Tai nạn xảy ra cũng có một phần lỗi của ông L do điều khiển xe mô tô chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, vi phạm Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Tuy nhiên, đây không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông.
Nên bị cáo K đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo theo điểm, khoản, Điều luật trên là có căn cứ.
- Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo Lý Thị K do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ theo quy định đã gây tai nạn, hậu quả làm chết ông L. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng của bị hại, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả. Đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về phía bị hại cũng có một phần lỗi là do điều khiển xe mô tô chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, vi phạm Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
- Xét tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, trên cơ sở xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người sống ở vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Tai nạn và hậu quả xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo và cũng do có một phần lỗi của bị hại.
Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương
10
nơi bị cáo cư trú giám sát theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam cũng đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo trở thành công dân tốt, người có ích cho xã hội.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo K đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 70.000.000 đồng. Đại diện gia đình nạn nhân đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng: - Cơ quan điều tra Công an huyện L đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98F1-201.83 cho bà Tống Thị L1 (là chủ sở hữu); xe mô tô biển kiểm saost 98H8-7682 cho anh Nguyễn Bá K1 (là người đại diện cho gia đình nạn nhân) là đúng quy định pháp luật.
- 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số [...], của bị cáo K, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến được nhận lại, do đó cần trả lại cho bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo K là người dân tộc Cao Lan, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Lý Thị K 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/6/2024.
Giao bị cáo Lý Thị K cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
11
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Lý Thị K 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số [...].
- Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý Thị K.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giáp Thị Loan |
12
13
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Thụ | Đỗ Thị Hoài Mơ | Giáp Thị Loan |
14
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(ĐÃ KÝ) | (ĐÃ KÝ) |
15
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Thị K - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
