Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 64/2024/HSST

Ngày: 20 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Cúc
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông: Quản Giang Thao – Chức vụ: Phó trưởng phòng giáo dục TX, Nghi Sơn
    2. Bà: Nguyễn Thị Sen – P. Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Thị xã Nghi Sơn.
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Q - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 4 năm 2024 tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXX-ST, ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Đăng T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 09/8/2005; Quê quán: phường T, thị xã N, Thanh Hóa ; Nơi cư trú: TDP Đ, phường T, thị xã N, Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lê Đăng T1 – đã chết và con bà Lê Thị H – sinh năm 1963; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
  2. Họ và tên: Hoàng Bá N; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/7/2006; Quê quán: phường T, thị xã N, Thanh Hóa ; Nơi cư trú: TDP Đ, phường T, thị xã N, Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Hoàng Bá T2 – đã chết và con bà Nguyễn Thị M – sinh năm 1973; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
  3. Họ và tên: Nguyễn Tuấn T3; Giới tính: Nam; Sinh ngày 30/9/2005; Quê quán: Xã Q, huyện Q, Thanh Hóa ; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, thị xã N, Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn B – sinh năm 1976 và con bà Bùi Thị T4 – sinh năm 1975; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
  4. Họ và tên: Nguyễn Bá H1; Giới tính: Nam; Sinh ngày 12/4/2003; Quê quán: phường T, thị xã N, Thanh Hóa ; Nơi cư trú: TDP Đ, phường T, thị xã N, Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Bá D – sinh năm 1979 và con bà Nguyễn Thị K – sinh năm 1982; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 21/02/2019, bị Công an huyện T là Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
  5. Họ và tên: Hoàng Văn T5; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05/9/2005; Quê quán: phường T, thị xã N, Thanh Hóa ; Nơi cư trú: TDP Đ, phường T, thị xã N, Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hoàng Văn V – sinh năm 1974 và con bà Phạm Thị D1 – sinh năm 1977 ; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá H1, Lê Đăng T và Hoàng Đăng T6: Ông Lê Khắc H2 – Trợ giúp viên Pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp tỉnh T – có mặt
  • - Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Bá N và Nguyễn Tuấn T3: Bà Mai Thùy L – Trợ giúp viên Pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp tỉnh T – có mặt
  • - Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hoàng Bá N: Chị Nguyễn Thị M – sinh năm 1973 – mẹ đẻ bị cáo N – có mặt.
  • Địa chỉ: TDP Đ, phường T, thị xã N, Thanh Hóa

  • - Người làm chứng: Nguyễn Văn C – sinh năm 2005
    • + Lê Huy H3 – sinh năm 2005

    Đều trú tại: Thôn T, xã P, thị xã N, Thanh Hóa.

    • + Lê Văn T7 – sinh năm 2005
    • + Lê Viết D2 – sinh năm 2005

    Đều trú tại: Thôn Đ, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    • + Nguyễn Duy K1 – sinh năm 2006

    Địa chỉ: TDP Đ, phường T, thị xã N, Thanh Hóa.

    Những người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn với Nguyễn Văn C (sinh năm 2005, trú tại thôn T, xã P, thị xã N), là học sinh trường THPT T8 3 nên vào chiều ngày 04/3/2023, Lê Đăng T (sinh năm 2005, trú tại tổ dân phố Đ, phường T, thị xã N) rủ Nguyễn Bá H1 (sinh năm 2003, trú cùng tổ dân phố) và Hoàng Văn T5 (sinh năm 2005, trú tại tổ dân phố G, phường T) đi tìm C để giải quyết mâu thuẫn, T5 và H1 đồng ý. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, T5 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xám đen, biển kiểm soát 36C1-552.18 chở T và H1 đến khu vực giáp ranh giữa tổ dân phố Đ, phường T và thôn Đ, xã P để chờ C đi học về. Tại đây, nhóm của T gặp Hoàng Bá N (sinh năm 2006, trú tại cùng tổ dân phố với T) đi xe mô tô nhãn hiệu Honda wave alpha, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 36C1-558.62 đến, biết nhóm của T đang tìm C nên N đi cùng lên xã P. Trên đường đi thì nhóm của T gặp Nguyễn Duy K1 (sinh năm 2006, trú tại cùng tổ dân phố với T) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wave alpha màu đỏ, đen, bạc, biển kiểm soát 36C1-064.73 chở theo Nguyễn Đức H4 (sinh năm 2006, trú tại tổ dân phố Đ, phường T, thị xã N) và Lê Văn T7 (sinh năm 2005, trú tại thôn Đ, xã P, thị xã N) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wave alpha, màu đen, biển kiểm soát 36C1-594.96 chở theo Lê Viết D2 (sinh năm 2005, người cùng thôn với T7). Sau khi biết nhóm của T đang đi tìm C thì cả bốn cũng đi theo (BL 383-384; 386-394; 397-400; 414-422; 428-431; 434-435; 481-483; 485-489; 491-493)

Khi đến cây xăng H6 thuộc thôn T, xã P, thị xã N, nhóm của T nhìn thấy Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wave alpha, màu trắng, đen, bạc biển kiểm soát 36M5-029.26 chở theo Lê Huy H3 và Nguyễn Tuấn T3, cùng sinh năm 2005, trú tại thôn T, xã P, thị xã N, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu đen, biển kiểm soát 36C1-338.90 đang vào bên trong cây xăng để đổ xăng nên T5 và T đi vào theo. T5 dừng xe, T xuống xe, đi bộ lại chỗ C, dùng tay khoác vai C và bảo “Đi ra đây nói chuyện”. Thấy vậy, H3 kéo C lại, C đẩy T ra và dùng tay đánh trả một cái vào đầu T, thì T và T5 lao vào đánh H3 và C. Tiếp đó, T chạy ra xe rút chìa khoá xe máy rồi cầm chìa khoá xe máy tiếp tục lao lại phía C và H3 để đánh. Lúc này, N và Nguyễn Bá H1 cũng đi xe vào bên trong cây xăng, cả hai xuống xe, xông lại đánh C và H3 cùng với T và T5. Thấy H3, C bị đánh nên T3 xông vào dùng chân đạp T5 ngã xuống và lấy trong cặp ra một chiếc côn nhị khúc đánh về phía nhóm của T thì trúng vào người N. Nhóm của T tiếp tục đuổi đánh C và H3 từ bên trong cây xăng ra phía nhà để gas ở gần đó, quá trình đuổi, N có lấy một ống nhựa, loại ống Φ48 ở gần cây xăng làm hung khí. Trong lúc bỏ chạy, C bị ngã, tay chống xuống đất; khi thấy C chạy ra đường N - B, N tiếp tục đuổi theo C. Bị truy đuổi nên C rút một con dao gọt hoa quả, dài khoảng 25cm, cán bằng gỗ ra giơ về phía Nhất để ngăn cản nhưng N vẫn đuổi theo. Thấy vậy, C cất dao vào cặp nhưng dao bị rơi ra đường, rồi lấy từ trong cặp ra 01 chiếc côn nhị khúc, quay lại đánh trúng vào vùng vai Nhất thì côn bị đứt dây, N dùng ống nhựa đánh hai cái vào lưng và vai C. Lúc này, có một số người dân ra can ngăn nên các đối tượng dừng lại, C và H3 bị thương được đưa đến Bệnh viện Đ điều trị (BL 383-384; 386-394; 397-400; 414-422; 428-431; 434-435; 481-483; 485-489; 491-493; 496-498; 509-512; 514-519; 525-528; 449-452; 460-463).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trích xuất từ Camera an ninh của cây xăng P thu giữ 05 tệp video ghi lại hình ảnh các đối tượng lùa đuổi, đánh nhau, toàn bộ dữ liệu được lưu trữ trong 01 USB màu bạc, hiệu Kingston (BL 255). Tại bản kết luận giám định số 2782/KL-KTHS ngày 31/7/2023, phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 05 tệp video của 01 USB gửi giám định. Sau giám định, phòng K2 Công an tỉnh T đã hoàn lại chiếc USB kèm theo các tài liệu giám định để đưa vào hồ sơ vụ án theo quy định (BL 224).

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 449/KLTTCT-PYTH ngày 03/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra cho Nguyễn Văn C là 12% (BL 178-180). Và tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 447/KLTTCT-PYTH ngày 03/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra cho Lê Huy H3 là 10% (BL 184-187). Đối với hành vi gây thương tích cho Nguyễn Văn C và Lê Huy H3 nêu trên của Lê Đăng T, Hoàng Bá N, Hoàng Văn T5, Nguyễn Bá H1: Quá trình điều tra, Nguyễn Văn C và Lê Huy H3 đã có đơn xin rút yêu cầu điều tra về thương tích của mình và 01 ống nhựa loại ống Φ48 gây thương tích cho C không phải hung khí nguy hiểm nên hành vi của T, N, T5 và H1 không cấu thành tội phạm (BL 129; 132).

Đối với hành vi của Nguyễn Văn C gây thương tích cho Hoàng Bá N; Nguyễn Tuấn T3 có hành vi đánh Hoàng Văn T5 và Hoàng Bá N, trong quá trình điều tra N và T5 đã có đơn xin rút yêu cầu điều tra về thương tích của mình nên hành vi C và T3 không cấu thành tội phạm (BL 134; 136).

Quá trình điều tra vụ án, xác định: Sau khi xảy ra đánh nhau, C bị nhóm của T lùa đuổi, tấn công nên C có hành vi sử dụng hung khí để tấn công lại với mục đích phòng vệ, vì vậy, hành vi của C không cấu thành tội phạm.

Đối với hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của Lê Huy H3, Nguyễn Văn C, Nguyễn Tuấn T3, Lê Văn T7, Lê Viết D2, Hoàng Bá N, Nguyễn Bá H1, Nguyễn Duy K1, Nguyễn Đức H4, Lê Đăng T, Hoàng Văn T5, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Đ1, trật tự Công an thị xã N xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với Lê Viết D2, Lê Văn T7, Nguyễn Đức H4, Nguyễn Duy K1 đi cùng Lê Đăng T đến cây xăng P, tuy nhiên các đối tượng này không tham gia lùa đổi, đánh nhau, gây rối nên không phạm tội.

Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi gây rối trật tự công cộng của bản thân và đồng phạm, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, hình ảnh Video clip thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã N truy tố các bị cáo.

Bản cáo trạng số 76/CT-VKSNS ngày 19 tháng 4 năm 2024 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố các bị cáo Lê Đăng T, Hoàng Bá N và Nguyễn Tuấn T3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS và Nguyễn Bá H1 và Hoàng Văn T5 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS;

  1. Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, khoản 4 Điều 98, Điều 101 và Điều 65 BLHS.
    • - Xử phạt: Lê Đăng T từ 18 đến 20 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
    • + Hoàng Bá N và Nguyễn Tuấn T3 mỗi bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
  2. Căn cứ: khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 BLHS.
    • - Xử phạt: Nguyễn Bá H1 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
  3. Căn cứ: khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, khoản 4 Điều 98, Điều 101 và Điều 65 BLHS.
    • - Xử phạt: Hoàng Văn T5 từ 03 đến 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
  4. - Về phần vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 bao đựng dao bằng gỗ, màu nâu, đã cũ, hình dẹt, dài 31cm, phần đầu và phần đuôi được cuốn bằng đồng vàng, rộng 1,2cm.
    • + 01 dây lưng da, màu đen, đã cũ, không gắn mặt dây lưng dài 93cm, rộng 3,5cm, đã qua sử dụng.
    • + 01 mặt dây lưng bằng sắt có lớp mạ màu vàng quanh viền mặt dây lưng, đã cũ, không rõ hình, dài 07cm, rộng 04cm.
    • + 01 ống hình trụ tròn màu đen được làm bằng nhựa cứng, đặc, dài 29cm, đường kính 2,5cm, một đầu bọc bằng sắt dài 5cm, có gắn xích dài 11cm.
    • + 01 ống hình trụ tròn màu đen được làm bằng nhựa cứng, đặc, dài 29cm, đường kính 2,5cm, một đầu bọc bằng sắt dài 5cm, có gắn xích dài 05cm.
    • + 15 mảnh vỡ nhựa tổng hợp (loại nhựa của ống nước P1), có hình dạng, kích thước khác nhau, không rõ hình.
    • + 01 côn nhị khúc bằng inox, màu trắng, gồm 02 (hai) ống trụ tròn rỗng bên trong, mỗi ống có đường kính 02cm, dài 28cm. Hai ống được nối với nhau bằng sợi xích sắt dài 18cm.

Đây là toàn bộ công cụ các bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

  • - Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định. Đối với bị cáo H1 đề nghị HĐXX miễn án phí HSST cho bị cáo.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo: Thống nhất với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà. Các bị cáo phạm tội mang tính chất bột phát, nhất thời, trong năm bị cáo thì có bốn bị cáo chưa đủ tuổi thành niên nên suy nghĩ còn hạn chế. Các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của bản thân, mong muốn được hưởng khoan hồng của pháp luật vì vậy đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Bá H1 thuộc trường hợp hộ cận nghèo nên đề nghị HĐXX miễn án phí HSST cho bị cáo.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo N thống nhất với quan điểm của người bào chữa.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên toà, các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan Điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn. Vì vậy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 04/3/2023, tại khu vực cây xăng H6 thuộc thôn T, xã P, thị xã N, Thanh Hóa, Lê Đăng T, Nguyễn Tuấn T3, Hoàng Bá N, Nguyễn Bá H1 và Hoàng Văn T5 đã có hành vi sử dụng hung khí, lùa đuổi, đánh nhau, gây náo loạn trong khu vực cây xăng H6, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và gây tâm lý hoang mang cho những người dân đang có mặt tại khu vực này.

Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo nội dung bản cáo trạng số 76/CT-VKSNS ngày 19 tháng 4 năm 2024 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố các bị cáo Lê Đăng T, Hoàng Bá N và Nguyễn Tuấn T3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS và Nguyễn Bá H1 và Hoàng Văn T5 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS;

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Do vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá truy tố là đúng người, đúng tội và đúng theo quy định của pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án:

Đây là vụ án hình sự gây rối trật tự công cộng nghiêm trọng và có tính chất đồng phạm giản đơn, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà các bị cáo đã có hành vi dùng hung khí lùa đuổi nhau tại cây xăng H6, gây nên cảnh hỗn loạn, sau khi được can ngăn mới dừng lại, thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào khoảng 17h45', tại thời điểm này nhiều người dân vào đổ xăng và có nhiều phương tiện giao thông đang lưu thông trên đường. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của cây xăng H6, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân có mặt tại cây xăng cũng như người dân tham gia giao thông trên đoạn đường này. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an vì vậy cần phải lên cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả mà các bị cáo gây ra.

[4]. Xét về vai trò, hành vi và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò từ trước tuy nhiên cũng cần áp dụng Điều 17 và Điều 58 BLHS để phân hoá và lên cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả mà mình gây ra. Sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đối với Hoàng Văn T5 và Nguyễn Bá H5 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân đối với Nguyễn Văn C nên Lê Đăng T đã có hành vi rủ Nguyễn Bá H1 và Hoàng Văn T5 đi tìm C để giải quyết mâu thuẫn cá nhân, sau khi gặp C, T đã có hành vi dùng chìa khoá xe máy để đánh, lùa đuổi C vì vậy T phạm tội với vai trò là người khởi xướng và phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo. Hoàng Bá N sử dụng ống nhựa, Nguyễn Tuấn T3 sử dụng côn nhị khúc để lùa đuổi đánh nhóm của C vì vậy hai bị cáo có vai trò ngang nhau và chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo T và cao hơn các bị cáo còn lại. Đối với Hoàng Văn T5 và Nguyễn Bá H1 có hành vi lùa đuổi, hô hào gây náo loạn khu vực cây xăng H6 nên các bị cáo có vai trò thấp nhất trong vụ án và chịu mức hình phạt ngang nhau.

Xét thấy các bị cáo Lê Đăng T, Nguyễn Tuấn T3, Hoàng Bá N và Hoàng Văn T5 phạm tội khi chưa thành niên, nhận thức pháp luật và xã hội còn hạn chế nên khi lượng hình cần xem xét đến chế độ người chưa thành niên và áp dụng Điều 91, 98 và Điều 101 BLHS cho các bị cáo để các bị cáo thấy được tính nhân đạo của pháp luật.

Bị cáo Lê Đăng T và Hoàng Bá N có ông bà nội ngoại là người có công với cách mạng, bị cáo Nguyễn Tuấn T3 đã tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo tại địa phương nên các bị cáo đều được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét thấy cả năm bị cáo đều phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định, tuổi đời còn trẻ nên nghĩ chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về quan điểm bào chữa cho các bị cáo HĐXX thấy phù hợp với nhận định của HĐXX nên được HĐXX chấp nhận.

[5]. Xét về phần vật chứng: Xét thấy các vật chứng thu giữ được đều liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo lại không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[6]. Về án phí: Các bị cáo N, T3, T và T5 phải chịu án phí HSST.

Đối với bị cáo Nguyễn Bá H1, là hộ cận nghèo nên thuộc trường hợp được miễn tiền án phí HSST.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, 98, Điều 101 và Điều 65 BLHS đối với các bị cáo T, N và T3.
    • - Khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 BLHS đối với bị cáo H1 và T5 (bị cáo T5 được áp dụng thêm các Điều 91, 98 và 101 BLHS).
  2. Tuyên bố: Các bị cáo: Lê Đăng T, Hoàng Bá N, Nguyễn Tuấn T3, Hoàng Văn T5 và Nguyễn Bá H1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
  3. Xử phạt:
    • - Lê Đăng T 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Nguyễn Tuấn T3 và Hoàng Bá N mỗi bị cáo 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Nguyễn Bá H1 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Hoàng Văn T5 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo: Lê Đăng T, Hoàng Bá N, Hoàng Văn T5 và Nguyễn Bá H1 cho UBND phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Giao bị cáo Nguyễn Tuấn T3 về cho UBND xã P, thị xã N, Thanh Hóa quản lý và giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

  • - Về phần vật chứng: Áp dụng: điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
    • + Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau đây: 01 dây lưng da, màu đen, đã cũ, không gắn mặt dây lưng dài 93cm, rộng 3,5cm, đã qua sử dụng.
    • + 01 mặt dây lưng bằng sắt có lớp mạ màu vàng quanh viền mặt dây lưng, đã cũ, không rõ hình, dài 07cm, rộng 04cm.
    • + 01 ống hình trụ tròn màu đen được làm bằng nhựa cứng, đặc, dài 29cm, đường kính 2,5cm, một đầu bọc bằng sắt dài 5cm, có gắn xích dài 11cm.
    • + 01 ống hình trụ tròn màu đen được làm bằng nhựa cứng, đặc, dài 29cm, đường kính 2,5cm, một đầu bọc bằng sắt dài 5cm, có gắn xích dài 05cm.

Toàn bộ số tang vật trên được đựng trong một hộp bìa cát tông dán kín, bên ngoài dán giấy trắng kín ở các góc có chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu của Công an xã P, ký hiệu M1

  • + 01 côn nhị khúc bằng inox, màu trắng, gồm 02 (hai) ống trụ tròn rỗng bên trong, mỗi ống có đường kính 02cm, dài 28cm. Hai ống được nối với nhau bằng sợi xích sắt dài 18cm được niêm phong trong một thùng bìa cát tông dán kín, bên ngoài dán giấy trắng kín ở các góc có chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu của Công an xã P, ký hiệu M2.
  • + 15 mảnh vỡ nhựa tổng hợp (loại nhựa của ống nước P1), có hình dạng, kích thước khác nhau, không rõ hình được niêm phong trong một thùng bìa cát tông dán kín, bên ngoài dán giấy trắng kín ở các góc có chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu của Công an xã P, ký hiệu M3.

Toàn bộ số tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại kho của Chi cục THADS Thị xã N, Thanh Hoá theo phiếu nhập kho số NK2024/74, ngày 25/4/2024.

  • - Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
    • + Bị cáo Nguyễn Bá H1 được miễn tiền án phí HSST.
    • + Các bị cáo T, N, T3 và T5 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.
  • - Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo N, người đại diện hợp pháp cho bị cáo N. Những người có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKS ND tỉnh Thanh Hóa
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CQĐT CA TX Nghi Sơn;
  • - THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nhà tạm giữ CA. TX. Nghi Sơn, Thanh Hoá.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Các Bị cáo;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HSST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA về hình sự (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 64/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 04/3/2023, tại khu vực cây xăng H6 thuộc thôn T, xã P, thị xã N, Thanh Hóa, Lê Đăng T, Nguyễn Tuấn T3, Hoàng Bá N, Nguyễn Bá H1 và Hoàng Văn T5 đã có hành vi sử dụng hung khí, lùa đuổi, đánh nhau, gây náo loạn trong khu vực cây xăng H6, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và gây tâm lý hoang mang cho những người dân đang có mặt tại khu vực này.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger