Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 64/2023/HS-ST

Ngày: 18/8/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Kính, Ông Nguyễn Đình Phùng.

Thư ký phiên toà: Bùi Thanh Việt – Thư ký TAND tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1986 tại Bình Định; nơi cư trú: Tổ D, khu phố I, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn B1, sinh năm: 1962 và bà: Đặng Thị M, sinh năm: 1968; vợ: đã ly hôn, có một người con 14 tuổi; tiền sự: không; tiền án: Ngày 20/7/2010, bị Tòa án nhân dân Quận X, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/9/2011, bị Tòa án nhân dân Quận X, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/6/2014, bị Tòa án nhân dân TP Q xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 04/6/2020 tại Trại giam K. Bị cáo bị bắt ngày 05/5/2023, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Nguyễn Văn N – sinh năm: 1977; nơi cư trú: Tổ D, KV I, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).
  2. Nguyễn Văn C – sinh năm: 1967; nơi cư trú: Tổ D, KV G, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 05/5/2023, Phòng cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường N, thành phố Q kiểm tra hành chính phòng 107, khu nhà trọ số C đường N, phường N, thành phố Q do Nguyễn Văn B thuê để lưu trú. B tự nguyện đưa hai chiếc nỏ thủy tinh được uốn cong, một đầu hình bầu dục, có 01 đoạn ống thủy tinh, có bám dính các hạt tinh thể không màu, nghi là ma tuý nên Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và đưa Nguyễn Văn B cùng tang vật về trụ sở cơ quan điều tra để làm việc.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn B khai nhận về nguồn gốc 02 nỏ thuỷ tinh có bám dính các chất ma tuý mà Cơ quan điều tra đã thu giữ, như sau:

Do có mối quan hệ quen biết qua mạng xã hội Facebook với tên Q ở thành phố Hồ Chí Minh (không rõ lai lịch), nên chiều ngày 03/5/2023 khi Q đến thành phố Q (có mang theo 01 gói ma túy đá) Q sử dụng điện thoại gọi qua mạng xã hội Facebook cho Nguyễn Văn B thì B trả lời “đang ở thành phố Q”. Sau đó, B mời Q về phòng trọ ở số nhà C đường N, thành phố Q chơi. Tại đây, Q cho B 01 gói ma túy để sử dụng. Sau khi có ma túy, B lấy nỏ thủy tinh (là dụng cụ sử dụng ma túy đá) cho ma túy vào nỏ sử dụng một mình tại phòng 107 khu N N, phường N, thành phố Q. Sử dụng một lúc thì B nghỉ không sử dụng nữa, do thấy trong nỏ thủy tinh còn ma túy nên B lấy cất giấu trên gác lửng phòng trọ nhằm mục đích khi nào cần lấy ra để sử dụng tiếp. Đến ngày 05/5/2023 khi Tổ công tác kiểm tra thì B đã tự nguyện giao nộp và Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ tang vật.

Tại Bản Kết luận giám định số 229/KL-KTHS ngày 09/5/2023 của Phòng K1 – Công an tỉnh B kết luận:

Các hạt tinh thể bám dính bên trong 01 chiếc nỏ thủy tinh là ma túy, có khối lượng 0,1652 gam là loại Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 72/CT-VKSBĐ-P1 ngày 12/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định luận tội và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 06 đến 07 năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy chất ma túy và nỏ sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng. Trả lại cho bị cáo 02 điện thoại.

Bị cáo không bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Nguyễn Văn B là người có 03 tiền án thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” nhưng không tu dưỡng mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo Nguyễn Văn B có hành vi cất giấu 0,1652 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số lượng ma túy bị cáo đã tàng trữ. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn B là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, do đó cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn B trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng: Các chất ma và nỏ sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. 02 chiếc điện thoại là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả cho bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/5/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  4. Tịch thu tiêu hủy:

    1. 01 (một) phong bì số 229/KL-KTHS bên ngoài có ghi: Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 01 (một) nỏ thủy tinh và 0,0645 gam mẫu A còn lại sau giám định, có đóng dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh B.
    2. 01 (một) nỏ thủy tinh.

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B:

    1. 01 (một) điện thoại di động, mặt sau có dòng chữ “Iphone” và hình trái táo khuyết, màu đen, số Imei: 355829087129667, gắn sim có dòng số 8401210833418982, đã qua sử sụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.
    2. 01 (một) điện thoại di động, mặt sau có dòng chữ “Nokia”, màu xanh, số Imei 1: 352182860200690; số Imei 2: 352182862200698, gắn sim có dòng số 8401210812259232, đã sụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. qua sử.

    (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/7/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định).

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng.
  6. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan THAHS&HTTP CA tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan HSNV CA tỉnh Bình Định;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh Bình Định;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2023/HS-ST ngày 18/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 64/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ị cáo Nguyễn Văn B là người có 03 tiền án thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” nhưng không tu dưỡng mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo Nguyễn Văn B có hành vi cất giấu 0,1652 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số lượng ma túy bị cáo đã tàng trữ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger