TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 8 - 2023
V/v tranh chấp không công nhận
quan hệ vợ chồng và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Phước Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Kiệt;
Bà Sơn Thị Vành Đa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Hồng T (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Nơi đăng ký thường trú: Khóm E, Thị trấn T, Huyện T, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở hiện nay: Ấp B, Xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Đỗ Phước L (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 24 tháng 12 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Hồng T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Hồng T và anh Đỗ Phước L có tổ chức tiệc cưới vào năm 2013 nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu khi mới sống chung với nhau thì vợ chồng chị sống rất hạnh phúc nhưng đến thời gian sau vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến cãi vã, bất đồng quan điểm sống và sống không hạnh phúc dẫn đến tình trạng hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân ngày càng trầm trọng, anh chị đã cố hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không thay đổi được gì nên chị T muốn kết thúc mối quan hệ này.
- Về con chung: Chị Phan Hồng T và anh Đỗ Phước L có 01 người con chung là cháu Đỗ Thiên P, sinh ngày 27/5/2014. Hiện nay cháu P đang sống chung với chị T.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Hồng T yêu cầu Toà án không công nhận chị và anh Đỗ Phước L là vợ chồng.
- Về con chung: Chị Phan Hồng T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Thiên P, sinh ngày 27/5/2014 đến khi cháu được tròn 18 tuổi và chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Hồng T xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn anh Đỗ Phước L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng bị đơn anh L không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị T. Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn anh L để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn anh L vắng mặt đồng thời nguyên đơn chị T đề nghị không tiến hành hòa giải. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản không tiến hành hòa giải được và Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử.
Bị đơn anh Đỗ Phước L đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Hồng T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Tòa án triệu tập hợp lệ nguyên đơn chị Phan Hồng T để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của nguyên đơn chị Phan Hồng T không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn Phan Hồng T.
- Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn anh Đỗ Phước L đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, anh L vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Đỗ Phước L.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Đỗ Phước L cư trú tại ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Phan Hồng T và anh Đỗ Phước L tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới vào năm 2013, đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thì anh chị phát sinh mâu thuẫn dẫn đến cãi vã, mâu thuẫn ngày càng nhiều. Anh chị đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả, cuộc sống vợ chồng đã không còn hạnh phúc, hiện nay anh chị đã không còn chung sống với nhau. Xét thấy, chị T và anh L1 sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013 nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Mặt khác, theo quy định tại điểm c khoản 3 Nghị Quyết số: 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội thì quan hệ hôn nhân của anh chị không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận chị Phan Hồng T và anh Đỗ Phước L là vợ chồng.
[4] Về con chung: Trong thời gian chung sống chị T và anh L có 01 con chung tên Đỗ Thiên P, sinh ngày 27/5/2014. Xét thấy, từ khi chị T và anh L không còn chung sống với nhau thì cháu P sống chung với chị T, do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, Tòa án có ghi ý kiến cháu P, cháu có nguyện vọng sống chung với chị T, điều kiện chăm sóc của chị T thuận lợi hơn anh L, nhằm ổn định cuộc sống cho cháu P về mặt vật chất cũng như tinh thần. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Đỗ Thiên P, sinh ngày 27/5/2014 cho chị T nuôi dưỡng đến khi cháu P đủ 18 (Mười tám) tuổi.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Hồng T xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phan Hồng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ điểm c khoản 3 Nghị quyết số: 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Phan Hồng T và anh Đỗ Phước L là vợ chồng.
- Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Đỗ Thiên P, sinh ngày 27/5/2014 cho chị Phan Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu P đủ 18 (mười tám) tuổi, anh Đỗ Phước L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Đỗ Phước L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Hồng T xác định không có, không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phan Hồng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009514 ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị Phan Hồng T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Phước Đạt |
Bản án số 64/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng và nuôi con
- Số bản án: 64/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
