TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 64 /2023/DS-ST
Ngày: 18 / 8 /2023
Về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
và Hợp đồng thế chấp tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Thanh Cao
- Ông Nguyễn Chí Công
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Vinh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại Phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2023/TLST-DS, ngày 18/01/2023, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 496/2023/QÐST-DS, ngày 28/7/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1); Địa chỉ trụ sở: 89, L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên lạc: Tầng E, Tòa nhà Báo Sài Gòn G, Số D, đường C, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ; Người đại diện theo pháp luật: Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;
Người đại diện theo ủy quyền: Đỗ Thành T - Chức vụ: Phó Giám đốc khối pháp chế và kiểm soát tuân thủ, V2; Đỗ Thành T ủy quyền cho Huỳnh Minh Đ; Địa chỉ: 6, N, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Theo văn bản ủy quyền số 199/2022/UQ-VPB, ngày 28/10/2022.
- Bị đơn: Đặng Hữu T1 - Sinh năm: 1983; Lê Nguyễn Trúc H - Sinh năm: 1989; HKTT: 121A/1, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ tạm trú của Lê Nguyễn Trúc H, sinh năm: 1989, tại tổ H khu phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
(Đại diện nguyên đơn có mặt, Bị đơn vắng mặt)
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần V là Huỳnh Minh Đ trình bày:
Theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1904221355419/DTP/HĐTC, ngày 24/04/2019 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần V cho Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H vay vốn 116.000.000 đồng, mục đích vay mua xe ô tô tải, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất vay theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay, còn nợ vốn gốc là 64.751.046 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 28/10/2022 là 18.056.051 đồng; Hợp đồng cho vay số: LN2106800686, ngày 09/03/2021, vay vốn 28.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 19/02/2024, lãi suất vay theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay, mục đích vay phục nhu cầu đời sống, vay tiêu dùng, trả tiền vốn và lãi vào ngày 19 tây hàng tháng, còn nợ vốn gốc là 25.780.214 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 28/10/2022 là 7.945.462 đồng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số: LN2012083117092, ngày 08/12/2020, vay vốn 10.000.000 đồng, thời hạn vay, lãi suất vay theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay, mục đích vay phục nhu cầu đời sống, vay tiêu dùng, còn nợ vốn gốc là 9.570.327 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 28/10/2022 là 6.766.078 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H đã không thực hiện đúng các nghĩa vụ trả nợ đã ký kết, các khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn.
Khi vay có đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng theo quy định pháp luật, thế chấp tài sản là Bản chính Giấy đăng ký xe ô tô nhãn hiệu THACO, biển số 66C-103.20 do ông Đặng Hữu T1 đứng tên chủ sở hữu.
Ngân hàng Thương mại cổ phần V yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lai Vung giải quyết buộc Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP V, nợ vốn gốc của 03 hợp đồng là 100.101.587 đồng, tiền lãi 32.767.591, tạm tính đến ngày 28/10/2022, tổng cộng tiền vốn, lãi là 132.869.178 đồng và tiếp tục tính tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng từ ngày 29/10/2022 đến khi trả xong nợ.
Công nhận Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1904221355419/DTP/HĐTC, ngày 24/04/2019 giữa Ngân hàng với ông Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H. Trường hợp Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay của Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1904221355419/DTP/HĐTC, ngày 24/04/2019 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H đã thi hành án xong mà tài sản thế chấp không bị kê biên, phát mãi, bán đấu giá để thi hành án thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả cho Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H, Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H tài sản thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1904221355419/DTP/HĐTC, ngày 24/04/2019.
2
Đối với xe ô tô tải nhãn hiệu THACO, biển số 66C-103.20 do ông Đặng Hữu T1 đứng tên chủ sở hữu, do ông T1, bà H quản lý sử dụng.
* Bị đơn Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần cũng như thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định pháp luật để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án mà vẫn vắng mặt, thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho Ngân hàng biết nơi cư trú mới và không liên hệ gì với nguyên đơn hay Tòa án biết để giải quyết, theo quy định trường hợp này được coi là cố tình giấu địa chỉ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần V có đơn khởi kiện Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H trả nợ vay, công nhận hợp đồng thế chấp đây là vụ án “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đương sự có nơi cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp, cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần cũng như thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định pháp luật để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án mà vẫn vắng mặt, thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho Ngân hàng biết nơi cư trú mới và không liên hệ gì với nguyên đơn hay Tòa án biết để giải quyết, theo quy định trường hợp này được coi là cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V, tổng số tiền nợ vốn gốc của 03 hợp đồng là 100.101.587 đồng, tiền lãi 32.767.591, tạm tính đến ngày 28/10/2022, tổng cộng tiền vốn, lãi là 132.869.178 đồng và tiếp tục tính tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng từ ngày 29/10/2022 đến khi trả xong nợ.
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của Ngân hàng là Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1904221355419/DTP/HĐTC, ngày 24/04/2019; Hợp đồng cho vay số: LD2106800686, ngày 09/03/2021; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
3
số: LN2012083117092, ngày 08/12/2020; Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng; Văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng ngày 24/4/2019 của Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP H. Trong quá trình thu thập chứng cứ Tòa án đã triệu tập Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H hợp lệ và thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định pháp luật, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định nhưng Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H vắng mặt không có lý do, không có tin tức gì về Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H, cũng như không có văn bản phản bác gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và theo lời khai của đương sự xác định Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H có vay tiền của Ngân hàng và nợ Ngân hàng tổng số tiền nợ vốn gốc của 03 hợp đồng là 100.101.587 đồng, tiền lãi 32.767.591, tạm tính đến ngày 28/10/2022, tổng cộng tiền vốn, lãi là 132.869.178 đồng và tiếp tục tính tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng từ ngày 29/10/2022 đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận, là phù hợp theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự:
Điều 463 của Bộ luật dân sự quy định:
“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định về Nghĩa vụ trả nợ của bên vay:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; ...
Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định:
- Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
- Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.
Đối với Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1904221355419/DTP/HĐTC, ngày 24/04/2019, Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng; Văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng ngày 24/4/2019 của Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP H. Hợp đồng được đăng ký biện pháp bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định nhưng Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H vắng mặt không có lý do, không có tin tức gì về Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H, cũng như không có văn bản phản bác gì đối với yêu cầu của
4
nguyên đơn, xem như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H đã từ bỏ quyền phản bác của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu công nhận Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1904221355419/DTP/HĐTC, ngày 24/04/2019 của Ngân hàng Thương mại cổ phần V là có sơ sở, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.
[3] Về tiền tạm ứng án phí, án phí; chi phí khác:
Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận là có căn cứ, phù hợp với khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, Ngân hàng đã nộp và đã chi xong không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[4] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 299, Điều 303, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 144, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần V.
- Buộc Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền nợ vốn gốc của 03 hợp đồng tổng cộng là 100.101.587 đồng, tiền lãi 32.767.591, tạm tính đến ngày 28/10/2022, tổng cộng tiền vốn, lãi là 132.869.178 đồng và tiếp tục tính tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng từ ngày 29/10/2022 cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng.
- Công nhận Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1904221355419/DTP/HĐTC, ngày 24/04/2019 giữa Ngân hàng với ông Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H. Trường hợp Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay của Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1904221355419/DTP/HĐTC, ngày 24/04/2019 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H đã thi hành án xong mà tài sản thế chấp không bị kê biên, phát mãi, bán đấu giá để thi hành án thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V tự nguyện
5
thực hiện nghĩa vụ trả cho Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H, Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H tài sản thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1904221355419/DTP/HĐTC, ngày 24/04/2019.
- Về tiền tạm ứng án phí, án phí:
Đặng Hữu T1, Lê Nguyễn Trúc H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 6.943.458 đồng (Sáu triệu, chín trăm bốn mươi ba nghìn, bốn trăm năm mươi tám đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần V không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.622.000 đồng theo biên lai số 0015663, ngày 17/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/8/2023). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bích Huyền |
6
Bản án số 64/2023/DS-ST ngày 18/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 64/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp Nhận yêu cầu của nguyên đơn
