|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 64/2024/DS-ST Ngày: 18/7/2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - THÀNH PHÓ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Bảo Huyền Trân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận
Bà Nguyễn Thị Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 72/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-DS ngày 20/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (VAB); địa chỉ trụ sở: Tầng E, tòa nhà S, số A đường C, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Hiếu T – chức vụ: Giám đốc Chi nhánh – Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh T1 và ông Nguyễn Huy H – chức vụ: Nhân viên hỗ trợ pháp lý - Trung tâm xử lý nợ Ngân hàng TMCP V; Cùng địa chỉ liên hệ: Số C đường L, phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số: 160/2021/GUQ-CT.HĐQT ngày 08/9/2021 và Giấy ủy quyền số: 1170/2024/GUQ-VAB ngày 01/4/2024). Ông T vắng mặt, ông H có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Viết C, sinh năm: 1976; Nơi đăng ký thường trú: K đường N, phường C, quận E, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện nay: số B đường P, tổ F phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Viết C có vay vốn tại Ngân hàng TMCP V – chi nhánh T1 theo Hợp đồng tín dụng số 320-05/15/VAB/HĐTDHCN ngày 04/02/2015, cụ thể: Số
1
tiền vay: 660.000.000đ (sáu trăm sáu mươi triệu đồng). Thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày 04/02/2015 đến ngày 04/02/2020. Phương thức trả gốc, lãi: Thời hạn trả vốn 60 tháng, thời hạn trả lãi 60 tháng. Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay ban đầu là 8%/năm, lãi suất cho vay hiện tại là 12,8%/năm. Lãi suất quá hạn: 150%. Mục đích vay: Mua xe ô tô. Để đảm bảo cho khoản vay, ông Nguyễn Viết C đã thế chấp quyền sở hữu 01 xe ô tô BKS số: 51F-062.94, nhãn hiệu: MAZDA, số máy: PE30737347; số khung: 47A6FC012163 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 044743 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp ngày 03/02/2015. Tài sản này được đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định có số đăng ký là 1174718107. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông C đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền 579.538.314đ, trong đó trả gốc là 407.000.000đ, trả lãi là 172.538.314đ. Sau đó, ông C thường xuyên vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc và gửi thông báo nhắc nợ nhưng ông C vẫn không tiếp tục có thiện chí trả nợ. Ông C không thực hiện trả nợ từ ngày 04/4/2018 nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Do ông C vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Viết C thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/7/2024 là 533.915.702đ (trong đó: nợ gốc là 253.000.000đ; nợ lãi trong hạn là 31.079.155đ; nợ lãi quá hạn là 249.836.547đ) và yêu cầu tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 19/7/2024 cho đến khi ông C thanh toán xong khoản nợ và các khoản phí cho Ngân hàng.
Trường hợp ông Nguyễn Viết C không thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng thì yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sở hữu 01 xe ô tô BKS số: 51F-062.94, nhãn hiệu: MAZDA, số máy: PE30737347; số khung: 47A6FC012163 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 044743 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp ngày 03/02/2015 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
* Bị đơn – ông Nguyễn Viết C trình bày:
Ông Chính xác nhận có vay nợ tại Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng tín dụng số 320-05/15/VAB/HĐTDHCN ngày 04/02/2015 như đại diện ngân hàng trình bày là đúng. Trong quá trình vay, do tình hình tài chính của ông C gặp nhiều khó khăn nên ông chưa thanh toán nợ vay theo đúng thỏa thuận. Do đó, việc Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu ông C thanh toán tiền nợ vay thì ông đồng ý trả nợ nhưng đề nghị Ngân hàng G thời gian trả nợ cho ông, ông Chính đề n được trả với phương thức như sau: Ngày 30/8/2024 trả số tiền gốc: 253.000.000đ và tiền lãi 50.000.000đ. Nếu ông C không thanh toán được cho Ngân hàng thì ông đồng ý phát mãi tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của ông là 01 xe ô tô BKS số: 51F-062.94, nhãn hiệu: MAZDA, số máy: PE30737347; số khung: 47A6FC012163 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 044743 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp ngày 03/02/2015 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố
2
Đà Nẵng phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 299, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng cần đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V buộc ông C phải thanh toán số tiền theo các hợp đồng tạm tính đến ngày 18/7/2024 tổng số tiền là 533.915.702đ (trong đó: nợ gốc là 253.000.000đ; nợ lãi trong hạn là 31.079.155đ; nợ lãi quá hạn là 249.836.547đ). Ngoài ra bị đơn còn có nghĩa vụ thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 19/7/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Căn cứ theo quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự trong trường hợp ông C không thực hiện được hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp mà các bên đã kí, xử lý tài sản thế chấp trong phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm theo quy định pháp luật.
Trường hợp ông Nguyễn Viết C thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì VAB phải làm các thủ tục xóa thế chấp và trả lại cho ông C Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.
Ông C phải chịu án phí, chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Toà án nhân dân quận 5, thành phố Hồ Chí Minh sau khi thụ lý vụ án, xác định ông Nguyễn Viết C không còn cư trú tại địa chỉ A N, phường C, quận E, thành phố Hồ Chí Minh mà hiện đang cư trú tại số B đường P, tổ F phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng nên đã chuyển hồ sơ vụ án đến Toà án nhân dân quận Thanh Khê thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Như vậy, yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi tắt VAB) đối với bị đơn ông Nguyễn Viết C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
3
[2.1] Tại phiên toà hôm nay, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 18/7/2024 tổng số tiền là 533.915.702đ trong đó: nợ gốc là 253.000.000đ; nợ lãi trong hạn là 31.079.155đ; nợ lãi quá hạn là 249.836.547d.
Căn cứ lời khai của các đương sự trong vụ án, cùng các tài liệu, chứng cứ thể hiện: Ngày 04/02/2015, Ngân hàng TMCP V – chi nhánh T1 ký kết Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 320-05/15/VAB/HĐTDHCN với ông Nguyễn Viết C, cụ thể: số tiền vay: 660.000.000đ (sáu trăm sáu mươi triệu đồng). Thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày 04/02/2015 đến ngày 04/02/2020. Phương thức trả gốc, lãi: Thời hạn trả vốn 60 tháng, thời hạn trả lãi 60 tháng. Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay ban đầu là 8%/năm, lãi suất cho vay hiện tại là 12,8%/năm. Lãi suất quá hạn: 150%. Mục đích vay: Mua xe ô tô.
Hội đồng xét xử nhận thấy, tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, việc ký kết các hợp đồng tín dụng và các thủ tục vay vốn tại Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của Luật và không trái đạo đức xã hội. VAB đã giải ngân đủ số tiền vay theo hợp đồng đã ký, ông C đã ký nhận đủ số tiền vay. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông C đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền 579.538.314đ, trong đó trả gốc là 407.000.000đ, trả lãi là 172.538.314đ. Nhưng từ ngày 04/4/2018 cho đến nay, ông C đã không thực hiện trả nợ cho VAB. Như vậy, VAB đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, ông C không thực hiện việc thanh toán cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông Nguyễn Viết C phải thanh toán số tiền nợ gốc và lãi của hợp đồng tín dụng hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 320-05/15/VAB/HĐTDHCN tổng số tiền là 533.915.702đ trong đó: nợ gốc là 253.000.000đ; nợ lãi trong hạn là 31.079.155đ; nợ lãi quá hạn là 249.836.547đ (tạm tính đến ngày 18/7/2024) và tuyên tiền lãi phát sinh ngày tiếp theo là phù hợp với quy định tại các Điều 91, Điều 92 và Điều 97 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Tại phiên toà, ông Chính xác n1 còn nợ VAB tổng số tiền 533.915.702đ tạm tính đến ngày 18/7/2024 nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin chỉ trả cho Ngân hàng tổng số tiền 350.000.000đ trong đó gốc: 253.000.000đ, nợ lãi trong hạn là 31.079.155đ; nợ lãi quá hạn là 65.920.845đ. Xét yêu cầu của bị đơn thấy rằng nguyên đơn không đồng ý, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về tài sản thế chấp: Xét, Hợp đồng thế chấp xe ô tô/phương tiện vận tải số: 320 – 06/15/VAB/TCOTO ngày 07/5/2015 tại Văn phòng C2 thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận. Tài sản bảo đảm là: xe ô tô con MAZDA, số máy: PE30737347;
4
số khung: 47A6FC012163; mang BKS số: 51F-062.94 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 044743 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp 03/02/2015 đứng tên ông Nguyễn Viết C đã thực hiện theo Hợp đồng thế chấp được công chứng số công chứng: 017005 quyển số 05/TP/CC-SCC/HĐGD.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng thế chấp được ký kết giữa VAB với bên thế chấp là ông C hoàn toàn tự nguyện, đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật, mặt khác trong hợp đồng thế chấp đã nêu rõ nội dung hợp đồng thế chấp và phạm vi bảo đảm là bên thế chấp tự nguyện thế chấp toàn bộ tài sản thuộc quyền sử dụng và quyền sở hữu của mình để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay bao gồm: nợ gốc, lãi tiền vay trong hạn và các chi phí phát sinh liên quan của số tiền vay theo Hợp đồng giữa Ngân hàng và các bên.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên đủ căn cứ xác định, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực đối với các bên. Vì vậy, trường hợp ông C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì VAB có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án phát mại tài sản thế chấp mà các bên đã ký kết để thu hồi nợ là phù hợp quy định tại các Điều 299 và Điều 303 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp ông Nguyễn Viết C thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì VAB phải làm các thủ tục xóa thế chấp và trả lại trên là Giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô cho ông Nguyễn Viết C theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể số tiền ông C phải chịu là (20.000.000đ + 4% x 133.915.702đ) = 25.356.628đ.
Hoàn trả lại cho VAB số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền 3.000.000đ, ông Nguyễn Viết C phải chịu nhưng Ngân hàng TMCP V đã nộp tạm ứng và đã chi nên ông Nguyễn Viết C có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 97, Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự;
5
Điều 299, Điều 303, Điều 322, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V đối với bị đơn ông Nguyễn Viết C về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
Tuyên xử:
- Buộc ông Nguyễn Viết C phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng số là 533.915.702đ (Năm trăm ba mươi ba triệu chín trăm mười lăm nghìn bảy trăm lẻ hai đồng) trong đó: nợ gốc là 253.000.000đ; nợ lãi trong hạn là 31.079.155đ; nợ lãi quá hạn là 249.836.547đ (tạm tính đến ngày 18/7/2024).
1.2 Kể từ ngày tiếp theo ngày 19/7/2024 cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi trên số nợ gốc và lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 320-05/15/VAB/HĐTDHCN
- Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Nguyễn Viết C không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng nói trên thì tài sản quyền sở hữu là 01 xe ô tô nhãn hiệu: MAZDA, BKS số: 51F-062.94, số máy: PE30737347; số khung: 47A6FC012163 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 044743 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp ngày 03/02/2015 theo Hợp đồng thế chấp được công chứng số công chứng: 017005 quyển số 05/TP/CC-SCC/HĐGD được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp ông Nguyễn Viết C thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V phải làm các thủ tục xóa thế chấp và trả lại Giấy chứng đăng ký xe ô tô số: 044743 do Phòng C1 Công an thành phố H cấp ngày 03/02/2015 cho ông Nguyễn Viết C theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.
- Về án phí:
3.1 Án phí dân sự sơ thẩm: 25.356.628đ (Hai mươi lăm triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng) ông Nguyễn Viết C phải chịu.
3.2 Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 11.896.232đ cho Ngân hàng TMCP V đã nộp theo biên lai thu số 0010937 ngày 03/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Nguyễn Viết C có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền 3.000.000đ.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
6
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Huyền Trân |
7
8
Bản án số 64/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 64/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
