Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS-ST

Ngày 18 tháng 7 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Minh Lễ và ông Phan Minh Quốc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đinh Phú Q, sinh ngày 01/01/1985. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Ự, sinh năm 1954 và bà Lê Thị N, sinh năm 1957; Anh, chị, em ruột có 07 người, bị cáo là người thứ năm; Vợ tên Trần Thị Kim N1 (Trần Kim N1), sinh năm 1988 (đã ly hôn); Con có 02 người, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009. Ngày 06/9/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2023, đến ngày 09/11/2023 tạm giam cho đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn Văn S, sinh ngày 04/8/2003. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; Anh, chị, em ruột có 06 người, bị cáo là người thứ năm; bị cáo chưa có vợ, con. Ngày 18/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 17/8/2021, chấp hành xong bản án

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2023, đến ngày 09/11/2023 tạm giam cho đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Ngô Văn Ú, sinh năm 1982. Nơi cư trú: khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị Bích D, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  3. Anh Võ Quốc T1, sinh năm 1998. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 31/10/2023, nhận được thông tin của người dân trình báo tại nhà trọ “Đ" thuộc ấp V, xã V, huyện T có nhiều đối tượng nghi vấn sử dụng ma túy nên Công an xã V tiến hành kiểm tra hành chính. Khi thấy lực lượng đến, Nguyễn Văn S ném bỏ bọc nylon được hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng xuống nền gạch, đồng thời tri hô cho Đinh Phú Q, Nguyễn Thị Bích D, Võ Quốc T1 đang ở phòng Số 6, biết để bỏ trốn, nhưng bị lực lượng khống chế ngay sau đó. Tại đây, Q và S khai nhận:

Khoảng 18 giờ ngày 30/10/2023, Q gọi điện thoại cho người thanh niên tên T2 (không rõ nhân thân) đặt mua 200.000 đồng ma túy đá, sau đó Q đi đến cầu M cách nhà trọ “Đ” khoảng 20m nhận ma túy và được T2 cho thêm 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị Bích D điều khiển xe mô tô biển số 53RA-1235, Võ Quốc T1 điều khiển xe mô tô biển số 67L9-7971 chở Nguyễn Văn S (bạn của Q) đến phòng trọ của Q chơi. Khi này, Q lấy một phần ma túy vừa mua được, cho vào bộ dụng cụ sử dụng chung với S; riêng D, T1 không tham gia sử dụng ma túy cùng Q, Sao. Sau khi sử dụng ma túy xong, bạn ngoài xã hội của Quí tên Đ (không rõ nhân thân) gọi điện thoại cho Q hỏi mua ma túy, Q đồng ý, đưa số ma túy còn lại cho S mang ra cổng nhà trọ giao ma túy cho Đ và dặn Sao nhận 200.000 đồng, khi S cầm số ma túy Q đưa đi ra đến cửa nhà giao cho Đ thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang như nội dung vụ án đã nêu.

Ngày 08/11/2023, Q, Sao bị khởi tố, điều tra.

Vật chứng thu giữ: Ống hút nhựa màu xanh; nắp nhựa màu đen; ống thủy tinh có đầu tròn; bình thủy tinh; một bật lửa màu xanh; điện thoại di động nhãn hiệu sam sung Galaxy A11, số Imei 1: 353279110941229, Imei 2: 353280110941227, gắn sim số 0866964224; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số imei 1: 356711084707290, màu hồng; điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Oppo Reno6, màu xanh, số Imei 1: 864647056880837, Imei 2: 864697056880829; điện thoại di động, nhãn hiệu S1 A13, màu đen số Imei 1: 354690576869226, Imei 2: 355864866869225; điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu đen, số Imei 1: 861329056204424, Imei 2: 861329056204432; xe mô tô biển số 67L9-7971, số máy 615280, số khung 625285; xe mô tô biển số 53GA-1235, số máy 025665.

Theo Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 31/10/2023 của Công an xã V, ghi nhận: Nguyễn Văn S, Đinh Phú Q, Nguyễn Thị Bích D, Võ Quốc T1 dương tính với M.

Tại Kết luận giám định số 205 ngày 02/11/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0.1256g.

Kết luận giám định số 454 ngày 23/11/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 05 điện thoại di động (ký hiệu A1 - A35) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T gửi giám định chi tiết thể hiện trong USB lưu trữ dữ liệu trích xuất kèm theo.

Theo Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 23/11/2023 của Công an huyện T, xác định: Xe mô tô có số máy VDELC150FMG025665, số khung VDEWCG033DE025665 mang biển số 88H3-5336 do Nguyễn Thị H1 đứng tên sở hữu.

Biển số xe 53RA-1235, có số máy SS50ME243730, số khung SS50M263088 do Nguyễn Đức D1 đứng tên chủ sở hữu.

Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS-HS, ngày 24/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Đinh Phú Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nguyễn Văn S tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đinh Phú Q, Nguyễn Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn Ú khai: Xe mô tô biển số 67L9-7971 do Ú đứng tên sở hữu. Năm 2017, Ú bán xe cho S với giá 3.500.000 đồng nên không yêu cầu gì đối với xe này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích D, anh Võ Quốc T1 khai: Ngày 30/10/2023, D, T1 đến phòng trọ số 6, nhà trọ “Đ” chơi với Q thì bị Công an kiểm tra bắt ma túy như nội dung vụ án nêu. D và T1 không tham gia sử dụng ma túy với Sao, Q. Việc, D, T1 có dương tính với ma túy là do cả hai đã sử dụng ma túy riêng trước đó.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với các bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 55, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đinh Phú Q mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội từ 05 năm đến 06 năm.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật. Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh các bị cáo khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

  2. Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố là đúng, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

    Ngày 30/10/2023, Đinh Phú Q, Nguyễn Văn S đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 0,1256 gam ma túy, loại Methamphetamine; ngoài ra, Q còn cung cấp chất ma túy, dụng cụ, địa điểm cho S sử dụng trái phép chất ma túy bị bắt quả tang.

    Căn cứ quy định pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo Đinh Văn Q1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Bị cáo Nguyễn Văn S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

  3. Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác.
  4. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

    Các bị cáo xuất thân thành phần lao động, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là muốn có ma túy sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.

    Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng thuộc trường hợp giản đơn, qua diễn biến vụ án cho thấy bị cáo Q1 giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo chủ động mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ, địa điểm rủ bị cáo S sử dụng ma túy chung; ngoài ra, sau khi sử dụng ma túy xong bị cáo bán lượng ma túy còn dư cho người tên Đ để sử dụng, bị cáo có nhân thân xấu vào năm 2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên trách nhiệm hình sự của bị cáo Q1 nặng hơn bị cáo S.

    Đối với bị cáo S, khi được bị cáo Q1 rủ rê sử dụng ma túy bị cáo không khuyên ngăn mà đồng ý ngay, bị cáo giúp sức cho bị cáo Q1 giao 0,1256 gam ma túy loại Methamphetamine cho người tên Đ để được hưởng lợi từ việc sử dụng ma túy miễn phí của Q1; bị cáo có nhân thân xấu, năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo gây ra và nhẹ hơn bị cáo Q1.

  5. Đối với người thanh niên tên T2, Đ mua bán ma túy với Q1, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

    Đối với Võ Quốc T1, Nguyễn Thị Bích D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có văn bản đề nghị Công an xã V và xã V, huyện T xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

  6. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng và theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  7. Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
  8. Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  9. Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là ma túy và các vật chứng khác liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng nên tuyên bố tịch thu tiêu hủy.

    Đối với các điện thoại di động, xe mô tô của Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Bích D, Võ Quốc T1 không liên quan đến vụ án nên tuyên trả lại cho chủ sở hữu.

    Đối với vật chứng là điện thoại liên quan đến vụ án tuyên bố tịch thu sung ngân sách nhà nước.

  10. Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đinh Phú Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251 và khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 55, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đinh Phú Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31 tháng 10 năm 2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 31 tháng 10 năm 2023.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư màu trắng, được niêm phong, dán kín, bên ngoài có ghi dòng chữ “Niêm phong vụ: 205/KL-KTHS(MT-GT), ngày 02/11/2023, kí hiệu M1, có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Thị Mỹ H2, Huỳnh Văn T3; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (01 ống hút nhựa màu xanh, nắp nhựa màu đen, 01 ống thủy tinh, có đầu hình tròn, một bình thủy tinh); 01 (một) bật lửa màu xanh (tất cả đã qua sử dụng).

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích D 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, model, Galaxy A11, có số Imei 1: 353279110941229 và số Imei 2: 353280110941227, trong điện thoại có gắn 02 thẻ sim (ký hiệu A3); 01 xe mô tô biển số 53RA-1235, màu đỏ, loại Wave, số khung: VDEWCG033DE025665, số máy: VDELC150FMG025665 (tất cả đã qua sử dụng).

Trả lại cho Võ Quốc T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, model: Galaxy A13, có số Imei 1: 354690576869226 và số Imei 2: 355864866869225, trong điện thoại có găn 02 thẻ sim (ký hiệu A2) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, model: Redmi 10, có số Imei 1: 861329056204424 và số Imei 2: 861329056204432, điện thoại không có gắn thẻ sim (ký hiệu A1) (tất cả đã qua sử dụng).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone 8 Plus, có số imei 1: 356711084707290, trong điện thoại có gắn 01 thẻ sim (ký hiệu A4) và 01 (một) xe mô tô biển số 67L9-7971, màu đỏ, loại Wave, số khung: RMKWCH6UM5K615280, số máy: VKV1P52FMHH615280 (tất cả đã qua sử dụng).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, model: OPPO Reno6 5G, có số Imei 1: 864647056880837 và số Imei 2: 864697056880829, trong điện thoại có gắn 02 thẻ sim (ký hiệu A5) (đã qua sử dụng).

(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 32/QĐ-VKSTS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn)

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Đinh Phú Q, Nguyễn Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Phú Quí, Nguyễn Văn Sao phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger