Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18/6/2024

V/v: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hơn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thùy Dương
  2. Bà Cao Thị Kim Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2024, về việc: “Tranh chấp về Ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 50a/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Tuyết N, sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn X, xã PN, thành phố T, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Anh Huỳnh Minh P, Sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt chị N, vắng mặt anh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 01 năm 2024, cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Ngô Thị Tuyết N trình bày: Chị và anh Huỳnh Minh P tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau chung sống với nhau từ năm 2013, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận ngày 19/7/2013, theo giấy chứng nhận kết hôn số 80/2013 của UBND xã H. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do anh P không chăm lo tới gia đình, chơi bời bài bạc dẫn tới nợ nần, nhiều lần chị phải đi trả nợ thay cho anh P. Chị đã nhiều lần khuyên nhũ nhưng anh P vẫn không từ bỏ, việc này xảy ra liên tục khiến cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng nặng nề. Từ đầu năm 2022 đến nay, chị dẫn theo người con tên Huỳnh Khánh L ra ở riêng, từ đó hai vợ chồng ly thân, từ khi ly thân đến nay vợ chồng không ai thăm hỏi ai, mạnh ai nấy sống. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Khánh V, sinh ngày 20/01/2013 và Huỳnh Khánh L, sinh ngày 13/11/2016. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn chị Ngô Thị Tuyết N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Chị Ngô Thị Tuyết N yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Huỳnh Minh P

- Về con chung: Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Huỳnh Khánh L và giao cháu Huỳnh Khánh V cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã ra thông báo về phiên hòa giải và tiến hành niêm yết hợp lệ cho bị đơn nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Ngô Thị Tuyết N có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn anh Huỳnh Minh P. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại thôn Đ, xã H, huyện B, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn anh Huỳnh Minh P tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Bởi lẽ, anh P đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: “Thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa” theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ anh P tự từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh P.

[3] Đối với việc tham gia phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân huyện B: Trong vụ án này, Tòa án không phải thu thập chứng cứ nên theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự, thì vụ án không cần phải có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

[4] Về nội dung:

[4.a] Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị N và anh P tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận ngày 19/7/2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống, do anh P không chăm lo tới gia đình, thường xuyên chơi bời bài bạc dẫn tới nợ nần. Chị đã nhiều lần khuyên nhũ nhưng anh P vẫn không từ bỏ, việc này xảy ra liên tục khiến cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng nặng nề. Từ đầu năm 2022 đến nay, vợ chồng không còn chung sống với nhau, không quan tâm gì đến nhau. Từ khi ly thân đến nay, vợ chồng không ai quan tâm tới ai, mạnh ai nấy sống, không còn tha thiết gì với hôn nhân của mình. Quá trình giải quyết vụ án, anh P cố tình lẫn tránh, không hợp tác, không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa, chị N kiên quyết ly hôn, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị N xin ly hôn với anh P là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.b] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Khánh V, sinh ngày 20/01/2013 và Huỳnh Khánh L, sinh ngày 13/11/2016, khi ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng L và giao cháu V cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Xét từ khi ly thân đến nay cháu L đang ở với chị N, do chị N trực tiếp nuôi dưỡng còn cháu V đang ở với anh P do anh P trực tiếp nuôi dưỡng và để tránh xáo trộn cuộc sống của hai cháu, nghĩ nên giao cháu L cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu V cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung, quá trình giải quyết vụ án anh P không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

Chị N, anh P có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

[4.c] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Chị Ngô Thị Tuyết N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Tuyết N
    • - Về hôn nhân: Chị Ngô Thị Tuyết N được ly hôn với anh Huỳnh Minh P
    • - Về con chung: Giao cháu Huỳnh Khanh L, sinh ngày 13/11/2016 cho chị Ngô Thị Tuyết N trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Huỳnh Khánh V, sinh ngày 20/01/2013 cho anh Huỳnh Minh P trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai.
    • Chị N, anh P có quyền thăm nom con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
    • - Về tài sản chung, và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí:
  3. Chị Ngô Thị Tuyết N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013035 ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Thuận. Chị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh P không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

  4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/6/2024). Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Hàm Thuận Bắc;
  • -Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • -Các đương sự;
  • -UBND(Nơi đăng ký kết hôn);
  • -Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Văn Hơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger