|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN Bản án số: 64/2024/HS-ST Ngày 17 – 7 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Phan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sở;
Bà Lê Thị Đông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trần Vy –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Thạch Quanh Thây - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
- Phạm Văn B, sinh năm 1999 tại Hậu Giang.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu V, Phường C, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiện tại: Số C, ấp C, xã H, thành phố T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn V (Đã chết) và bà Trần Thị Mỹ H. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 16/01/2024 Toà án nhân huyện T, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/12/2023 đến ngày 24/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố T (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Mai Chí H1, sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt);
+ Anh Đoàn Thanh H2, sinh năm 2002; Địa chỉ: Số A, ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
+ Anh Phùng Hoàng V1, sinh năm 1994; Địa chỉ: ấp A, xã L, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt);
+ Anh Trương Trọng P, sinh năm 2001; Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt);
+ Anh Nguyễn Phi H3, sinh năm 2004; Địa chỉ: Số F, ấp Đ, xã H, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt);
+ Anh Nguyễn Trọng Khánh D, sinh năm 2002; Địa chỉ: Số D, ấp C, xã H, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt);
+ Anh Phạm Xuân H4, sinh năm 1997; Địa chỉ: A, đường H, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 17/12/2023 lực lượng Công an xã H phối hợp cùng đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Công an thành phố T, tỉnh Long An tiến hành kiểm tra nhà số C, Ấp C, xã H, thành phố T, tỉnh Long An, phát hiện bắt quả tang Phạm Văn B đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép cho nhiều đối tượng. Qua làm việc B khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Ngày 17/12/2023, cả nhóm 09 người gồm bị cáo B, Mai Chí H1, Đoàn Thanh H2, Trương Trọng P, Nguyễn Trọng Khánh D, Nguyễn Phi H3, Trương Minh N, Phùng Hoàng V1, Phan Thị Yến N1 cùng nhau tổ chức ăn uống phía sau nhà số C, Ấp C, xã H, thành phố T, tỉnh Long An. Cả nhóm uống bia đến khoảng 22 giờ cùng ngày H1 hỏi bị cáo B: “Có chơi không anh em hùn tiền lại chơi”, bị cáo B trả lời: “Hồi bữa em được người ta cho một miếng nè”, Sau đó, bị cáo B đi vào phòng lấy gói ma túy ra, H2 tự đi lấy 01 dĩa sứ và dùng tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000đ cuộn lại làm thành 01 ống hút đưa cho bị cáo B. Bị cáo B hỏi cả nhóm: “Có thằng nào có thẻ gì không?”, D hỏi lại: “Có cái thẻ căn cước được không anh N2 (N2 là tên thường gọi của bị cáo B)?”. D đưa cho bị cáo B căn cước công dân của D, B cầm gói ma túy đổ hết vào dĩa và để tờ tiền mệnh giá 1.000₫ dùng để gói ma túy xuống bàn. Sau đó, bị cáo B dùng căn cước công dân kẻ đường khay và sử dụng trước rồi đến V1, H1, H2 cũng tham gia sử dụng mỗi người hít một lượt, đến ai thì thì đó tự cầm hít. Sau đó, bị cáo B cùng nhóm người tiếp tục ngồi ăn uống và ngồi bấm điện thoại. Khoảng 10 phút sau lực lượng công an đến kiểm tra phát hiện trên bàn có 01 dĩa sứ màu trắng chứa chất bột màu trắng, 01 ống hút làm bằng tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000đ, 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đ, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng Khánh D. Lực lượng công an đã lập biên bản thu giữ, niêm phong toàn bộ tang vật, qua test chất nhanh phát hiện Phạm Văn B, Mai Chí H1, Đoàn Thanh H2, Trương Trọng P, Nguyễn Phi H3 và Phùng Hoàng Văn dương t với ma tuý (loại Ketamine).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Phạm Văn B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, chất ma tuý mà lực lượng công an phát hiện thu giữ trên 01 dĩa sứ màu trắng là của bị cáo B được một người thanh niên tên S (không biết rõ họ tên và địa chỉ) cho vào ngày 12/12/2023 trong lúc dự sinh nhật của một người bạn ở thành phố M, tỉnh Tiền Giang (bị cáo không nhớ chính xác địa điểm), B đem ra cho các đối tượng gồm: Phùng Hoàng V1, Mai Chí H1 và Đoàn Thanh H2 sử dụng còn dư lại, còn những người khác bị cáo B không chứng kiến việc họ sử dụng chất ma tuý. Tuy nhiên, qua làm việc Trương Trọng P, Nguyễn Phi H3 khai nhận có tham gia sử dụng chất ma tuý của bị cáo B vào ngày 17/12/2023, cả hai đối tượng đều dương tính với ma tuý.
Vật chứng thu giữ:
- Chất bột màu trắng thu giữ trên dĩa sứ được niêm phong, có chữ viết và chữ ký của Phạm Văn B, Mai Chí H1, Đoàn Thanh H2, Phùng Hoàng V1, Trương Trọng P, Nguyễn Phi H3, Nguyễn Trọng Khánh D, Trương Minh N, Phan Thị Yến N1, Phạm Xuân H4 và Nguyễn Hồng T, ký hiệu A1.
- 01 dĩa sứ màu trắng hình tròn có hoa văn màu xám – xanh, 01 ống hút làm bằng tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000đ, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng Khánh D được niêm phong có chữ ký của Phạm Văn B, Mai Chí H1, Đoàn Thanh H2, Phùng Hoàng V1, Trương Trọng P, Nguyễn Phi H3, Nguyễn Trọng Khánh D, Trương Minh N, Phan Thị Yến N1, Phạm Xuân H4 và Nguyễn Hồng T ký hiệu A2.
- 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đ.
Tại Bản kết luận giám định số 1331/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh L xác định kết luận: Chất bột màu trắng đựng trong gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,0750gam, loại: Ketamine.
Cáo trạng số 61/CT-VKSTA-HS ngày 26/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phạm Văn B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định và không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, về hình phạt chính:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn B từ 08 năm đến 09 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- 01 bìa thư niêm phong nguyên vẹn ghi vụ số 1331, có chữ ký họ tên người niêm phong Nguyễn Thanh H5, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh L, bên trong gồm: mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,6971gam và vỏ bao đựng mẫu; 01 dĩa sứ màu trắng hình tròn có hoa văn màu xám-xanh đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- 01 ống Hút làm bằng tiền Việt Nam mệnh giá 10.000đ và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đ đề nghị tịch thu sung công quỹ.
- 01 căn cước công dân tên Nguyễn Trọng Khánh D đề nghị trả lại.
Buộc bị cáo Phạm Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết mình sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.
[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Mai Chí H1, Đoàn Thanh H2, Trương Trọng P, Nguyễn Phi H3, Nguyễn Trọng Khánh D, Phạm Xuân H4 vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của đương sự này nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự này theo quy định tại điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 17/12/2023 lực lượng Công an thành phố T tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Phạm Văn B đang có hành vi cung cấp ma túy loại Ketamine cho Phùng Hoàng V1, Mai Chí H1, Đoàn Thanh H2, Trương Trọng P, Nguyễn Phi H3 sử dụng tại nhà số C, Ấp C, xã H, thành phố T, tỉnh Long An, thì bị Lực lượng Công an xã H kết hợp với Đội cảnh sát ma túy Công an thành Phố bắt quả tang. Do đó, đủ cơ sở để kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn B đủ yếu tố cấu thành tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo tổ chức cho 05 người sử dụng trái phép chất ma túy gồm Phùng H, Mai Chí H1, Đoàn Thanh H2, Trương Trọng P, Nguyễn Phi H3 là vi tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[4] Đối với ma túy thu giữ tại địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có khối lượng 1,0750 gam, loại: Ketamine, mặc dù đủ định lượng tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, xét thấy tại thời điểm bắt quả tang số ma túy này đang để trong dĩa sứ đặt trên bàn và đã phân chia nhỏ thành nhiều phần, mục đích là để bị cáo và các đối tượng khác sử dụng, do đó không cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[5] Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của con người, cộng đồng và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo ý thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[6] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
[7] Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 08 năm đến 09 năm tù, Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
[8] Tại Bản án số 04/2024/HSST ngày 16/01/2024 của TAND huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang đã xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, bản án đã có hiệu lực pháp luật, do đó cần tổng hợp với mức hình phạt trong vụ án này, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không thu lợi bất chính cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng:
[10.1] 01 bìa thư niêm phong nguyên vẹn ghi vụ số 1331, có chữ ký họ tên người niêm phong Nguyễn Thanh H5, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh L, bên trong gồm: mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,6971gam và vỏ bao đựng mẫu; 01 dĩa sứ màu trắng hình tròn có hoa văn màu xám-xanh, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
[10.2] 01 ống Hút làm bằng tiền Việt Nam mệnh giá 10.000đ, 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đ Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ.
[10.3] 01 căn cước công dân tên Nguyễn Trọng Khánh D đây là giấy tờ nhân thân của Nguyễn Trọng Khánh D nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho Nguyễn Trọng Khánh D.
[11] Đối với đối tượng tên S là người cho bị cáo Bắc chất ma túy tại thành phố M, tỉnh Tiền Giang không xác định được nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
[12] Đối với Mai Chí H1, Đoàn Thanh H2, Phùng H, Trương Trọng P và Nguyễn Phi H3 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vi phạm vào khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021, của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Cơ quan CSĐT đã chuyển hồ sơ cho Công an xã H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[13] Đối với bà Trương Thị C là chủ sở hữu căn nhà tại số C, Ấp C, xã H, thành phố T, tỉnh Long An đã cho Phạm Xuân H4 thuê để buôn bán cà phê và kinh doanh bàn bida nhưng không làm hợp đồng cho thuê, sau khi cho thuê bà C giao toàn bộ quyền sử dụng nhà cho Phạm Xuân H4, việc Phạm Văn B tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bà C không biết nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm của bà C.
[14] Đối với Phạm Xuân H4 là người thuê và trực tiếp quản lý căn nhà tại số C, Ấp C, xã H, thành phố T, tỉnh Long An. Tại thời điểm bắt quả tang Phạm Văn B tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì H4 không có mặt, quá trình điều tra xác định H4 không biết Phạm Văn B tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền quản lý của mình nên không có đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Xuân H4.
[15] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn B 08 (tám) năm tù. Tổng hợp với 02 (Hai) năm tù tại Bản án số 04/2024/HSST ngày 16/01/2024 của TAND huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 10 (M) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2023.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Văn B 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (17/7/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bìa thư niêm phong nguyên vẹn ghi vụ số 1331, có chữ ký họ tên người niêm phong Nguyễn Thanh H5, người chứng kiến Phạm Thị Thanh T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh L, bên trong gồm: mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,6971gam và vỏ bao đựng mẫu; 01 dĩa sứ màu trắng hình tròn có hoa văn màu xám-xanh, kích thước 2,5cm x 0,4cm; 05 đoạn ống nhựa nhỏ dài 2mm.
- Tịch thu sung công quỹ: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000đ và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000₫
- Trả lại cho Nguyễn Trọng Khánh D: 01 căn cước công dân tên Nguyễn Trọng Khánh D.
(Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa. Buộc bị cáo Phạm Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi Nhận :
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Phan |
Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 64/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Bắc phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
